Tìm kiếm blog này

Kiếm đạo

Kiếm đạo Nhật Bản


Như mọi người đã biết, Angel là một người rất thích văn hóa Nhật Bản. Văn hóa Nhật độc đáo là bởi lẽ nó có sự kết hợp của nét truyền thống và hiện đại, trong đó, kiếm đạo là một nét đặc trưng mà người Nhật tự hào.



Hôm nay sẽ giới thiệu với mọi người một chút về kiếm đạo Nhật Bản , định làm hẳn về chủ đề samurai nhưng nó lớn quá, không thể nói hết trong một entry được.



Kiếm được người Nhật sử dụng nhiều nhất trong các cuộc chiến tranh thời phong kiến, nghe nói có nguồn gốc đầu tiên là từ Trung Quốc. Từ hình dạng thắng, cấu trúc đơn giản, khi qua Nhật Bản, nó đã được cải tiến với đường gươm lượn cong, cán dài, mang tính đặc thù của Nhật.


Nói về thời gian ra đời thì có tài liệu ghi là thế kỷ thứ 8 nhưng có tài liệu lại cho là thế kỉ thứ 10 thanh kiếm đậm chất Nhật Bản mới xuất hiện.


Ý nghĩa: Với một samurai thì thanh kiếm là một thứ không thể thiếu , nó không những chỉ là một công cụ chiến đấu lợi hại mà còn đại diện cho tinh thần chiến đấu, phẩm giá và danh dự của họ. Nó như tâm hồn của mỗi võ sĩ samurai vậy, kiếm và người như hòa làm một. "Kiếm còn người còn, kiếm mất người cũng mất" . Chính vì vậy mỗi samurai coi thanh kiếm như mạng sống của mình, không ai được quyền sở hữu, những thanh kiếm quý sẽ được lưu truyền trong dòng tộc, thế hệ trước để lại cho thế hệ sau.



Đấy là về phần ý nghĩa, còn bây giờ Angel sẽ giới thiệu cho mọi người về các chủng loại kiếm:


Nếu chia theo độ dài, cấu tạo thì kiếm Nhật có 3 loại:
- Trường kiếm (kiếm dài - Tachi hoặc Katana)
- Đoản kiếm (Kodachi hay Wakizashi) ngắn hơn một chút, cùng với kiếm dài tạo thành bộ song kiếm và kiếm ngắn, gần như dao găm (Tanto hoặc Akuchi). Kiếm ngắn dùng khi cận chiến hoặc trong nghi thức Seppuku (mổ bụng tự sát)









Nếu chia về chức năng thì kiếm Nhật gồm 2 nhóm:
- Cặp kiếm chiến đấu: Tachi Tanto.
- Cặp kiếm dân sự: Katana Wakazashi.









Cặp kiếm chiến đấu thường sử dụng khi samurai mặc giáp phục. Còn khi đã cởi bỏ áo giáp thì họ chuyển sang sử dụng cặp KatanaWakazashi. Katana có cấu tạo giống Tachi, chỉ khác một chút là Tachi có thêm bộ phận phụ ở vỏ bao để đeo bên hông.



+ Tachi: lưỡi gươm có cấu tạo cong, chuôi dài có thể nắm bằng cả hai tay. Vỏ bao có bộ phận phụ để đeo bên hông. Dùng khi mặc giáp phục.





+ Tanto: cấu tạo giống Tachi nhưng ngắn, gần giống như dao găm. Dùng khi giáp chiến hoặc trong nghi thức Seppuku (mổ bụng tứ sát ) Sau đây là Tanto:











































+ Katana: có cấu tạo giống Tachi nhưng không có bộ phận phụ để đeo bên hông, và dùng khi cởi bỏ áo giáp.












+ Wakazashi: có cấu tạo dài hơn Tanto và hợp với Katana thành một cặp song kiếm.











Có thể nói sau một khoảng thời gian dài phát triển, môn kiếm thuật Nhật Bản Kenjitsu, với những đặc trưng riêng mới được hình thành. Những kiếm sĩ thành danh thường xây dựng một hệ thống kỹ thuật riêng, để lập nên những trường phái rồi cứ thế truyền từ đời này sang đời khác.



Tinh hoa nghệ thuật cũng theo đó dần dần phát triển thêm lên. Tuy nhiên phải đến cuối thế kỷ 14 đầu thế kỷ 15 bài tập đối luyện kiếm thuật (Kata) với tổ hợp động tác công - thủ - phản công có quy ước mới được nghiên cứu và đưa vào hệ thống huấn luyện. Mãi cho tới cuối thế kỷ 15, kiếm gỗ (Bokken) mới bắt đầu được sử dụng trong những buổi tập luyện.


Thời kỳ này lư thuyết chung về kiếm thuật đă được hoàn thiện nhằm mục đích huấn luyện trong giới Samurai. Không chỉ vậy lư thuyết này còn được kết hợp với tư tưởng Nho Giáo để xây dựng một triết lí về phong cách sống và hành động của giới vơ sĩ đạo (Bushido).


Kiếm gỗ (Bokken)





Theo một số thư tịch cổ để lại th́ từ thế kỷ 15 - 17 trên toàn nước Nhật có khoảng 600 trường phái kiếm thuật, chưa kể đến các môn võ thuật khác. Có thể nói thời kỳ này đánh dấu một bước phát triển của nghệ thuật sử dụng kiếm, bởi trước đó thanh kiếm chỉ được coi là thứ vũ khí giết người.


Khởi đầu của bộ môn nghệ thuật kiếm phải kể tới kiếm sư Sekishu - người sáng lập trường phái Yagyu Shinkage dưới sự bảo trợ của tướng quân Tokugawa Ieyasu. Ông đã truyền giảng cho môn sinh của mình khái niệm về sự cảm nhận tâm linh đạt được qua việc tập luyện kiếm thuật.


Con trai của ông là Munenori (1571 - 1646), một kiếm sĩ tài ba sau này đã biên soạn cuốn Fudochi - shinmyoroku mà nội dung chủ yếu kể về kinh nghiệm trực ngộ "Thiện đạo" trong kiếm thuật.



Yagyu Shinkage cũng như Maniwa Nen, Shinkatato, Ono hay Intto là những trường phái tiên phong trong khuynh hướng chuyển từ Kiếm thuật sang Kiếm đạo (Kendo). Đồng thời đưa kiếm tre (Shinai) vào luyện tập và thi đấu. Kiếm tre ban đầu được chế tạo bằng cách dùng 4 mảnh tre dài ghép lại đút vào một cái bao dài bằng da cóc hoặc da thuộc chưa có miếng lá chắn che tay (Tsuba).



Sau này nó được cải tiến với bao vải thay thế bao da, thêm miếng lá chắn vào và có trọng lượng gần bằng kiếm thuật song có hình dạng thẳng.




Đến thế kỷ 18, kiếm tre và sàn tập bằng gỗ trở nên phổ biến tại các trường phái dạy kiếm, hơn thế có các dụng cụ hỗ trợ tập luyện như: giáp che ngực, mũ che đầu, găng tay bảo vệ... cũng được cách tân từ binh giáp truyền thống để trang bị cho môn sinh theo học kiếm đạo.


Sang thế kỷ 19, kiếm đạo phát triển rộng trong quần chúng cũng như nhiều môn võ khác, và nó không chỉ thu hẹp trong giới Samurai. Bằng chứng là đă có rất nhiều cuộc biểu diễn kiếm đạo được tổ chức cho công chúng xem tại những nơi sinh hoạt công cộng.


Cuối cùng, giờ đây kiếm đạo đã trở thành một trong những nét văn hoá đặc trưng truyền thống mà mỗi khi nhắc tới văn hoá Nhật Bản chúng ta không thể không kể tới sự góp mặt của nó.



Có một sự kiện làm thay đổi làng võ Nhật Bản, ảnh hưởng trực tiếp đến kiếm đạo xảy ra vào năm 1882, khi võ sư thiên tài Jigoro Kano bắt đầu truyền bá môn Nhu đạo (Judo). Ông đã dày công nghiên cứu sửa đổi, sáng tạo thêm từ môn Nhu thuật (Jujitsu) cổ truyền, và cũng từ đó kiếm đạo bắt đầu thâm nhập vào học đường.


Đến năm 1912, cùng với Nhu đạo, Kiếm đạo được chính thức đưa vào chương trình huấn luyện thể dục ở bậc Trung học áp dụng trên toàn nước Nhật. Tìm hiểu Văn hoá Nhật Bản nói chung và kiếm đạo nói riêng chắc chắn bạn sẽ không thể bỏ qua cái mốc quan trọng đó.

Kiếm đạo Nhật Bản

Kiếm được người Nhật sử dụng nhiều nhất trong các cuộc chiến tranh thời phong kiến, nghe nói có nguồn gốc đầu tiên là từ Trung Quốc. Từ hình dạng thắng, cấu trúc đơn giản, khi qua Nhật Bản, nó đã được cải tiến với đường gươm lượn cong, cán dài, mang tính đặc thù của Nhật.

Nói về thời gian ra đời thì có tài liệu ghi là thế kỷ thứ 8 nhưng có tài liệu lại cho là thế kỉ thứ 10 thanh kiếm đậm chất Nhật Bản mới xuất hiện.

Ý nghĩa: Với một samurai thì thanh kiếm là một thứ không thể thiếu , nó không những chỉ là một công cụ chiến đấu lợi hại mà còn đại diện cho tinh thần chiến đấu, phẩm giá và danh dự của họ. Nó như tâm hồn của mỗi võ sĩ samurai vậy, kiếm và người như hòa làm một. "Kiếm còn người còn, kiếm mất người cũng mất" . Chính vì vậy mỗi samurai coi thanh kiếm như mạng sống của mình, không ai được quyền sở hữu, những thanh kiếm quý sẽ được lưu truyền trong dòng tộc, thế hệ trước để lại cho thế hệ sau.

Nếu chia theo độ dài, cấu tạo thì kiếm Nhật có 3 loại:
- Trường kiếm (kiếm dài - Tachi hoặc Katana)
- Đoản kiếm (Kodachi hay Wakizashi) ngắn hơn một chút, cùng với kiếm dài tạo thành bộ song kiếm và kiếm ngắn, gần như dao găm (Tanto hoặc Akuchi). Kiếm ngắn dùng khi cận chiến hoặc trong nghi thức Seppuku (mổ bụng tự sát)
Nếu chia về chức năng thì kiếm Nhật gồm 2 nhóm:
- Cặp kiếm chiến đấu: Tachi và Tanto.
- Cặp kiếm dân sự: Katana và Wakazashi.

Cặp kiếm chiến đấu thường sử dụng khi samurai mặc giáp phục. Còn khi đã cởi bỏ áo giáp thì họ chuyển sang sử dụng cặp Katana và Wakazashi. Katana có cấu tạo giống Tachi, chỉ khác một chút là Tachi có thêm bộ phận phụ ở vỏ bao để đeo bên hông.

+ Tachi: lưỡi gươm có cấu tạo cong, chuôi dài có thể nắm bằng cả hai tay. Vỏ bao có bộ phận phụ để đeo bên hông. Dùng khi mặc giáp phục.

+ Tanto: cấu tạo giống Tachi nhưng ngắn, gần giống như dao găm. Dùng khi giáp chiến hoặc trong nghi thức Seppuku (mổ bụng tứ sát )

+ Katana: có cấu tạo giống Tachi nhưng không có bộ phận phụ để đeo bên hông, và dùng khi cởi bỏ áo giáp.

+ Wakazashi: có cấu tạo dài hơn Tanto và hợp với Katana thành một cặp song kiếm.

Có thể nói sau một khoảng thời gian dài phát triển, môn kiếm thuật Nhật Bản Kenjitsu, với những đặc trưng riêng mới được hình thành. Những kiếm sĩ thành danh thường xây dựng một hệ thống kỹ thuật riêng, để lập nên những trường phái rồi cứ thế truyền từ đời này sang đời khác.

Tinh hoa nghệ thuật cũng theo đó dần dần phát triển thêm lên. Tuy nhiên phải đến cuối thế kỷ 14 đầu thế kỷ 15 bài tập đối luyện kiếm thuật (Kata) với tổ hợp động tác công - thủ - phản công có quy ước mới được nghiên cứu và đưa vào hệ thống huấn luyện. Mãi cho tới cuối thế kỷ 15, kiếm gỗ (Bokken) mới bắt đầu được sử dụng trong những buổi tập luyện.

Thời kỳ này lư thuyết chung về kiếm thuật đă được hoàn thiện nhằm mục đích huấn luyện trong giới Samurai. Không chỉ vậy lư thuyết này còn được kết hợp với tư tưởng Nho Giáo để xây dựng một triết lí về phong cách sống và hành động của giới vơ sĩ đạo (Bushido).

Theo một số thư tịch cổ để lại, từ thế kỷ 15 - 17 trên toàn nước Nhật có khoảng 600 trường phái kiếm thuật, chưa kể đến các môn võ thuật khác. Có thể nói thời kỳ này đánh dấu một bước phát triển của nghệ thuật sử dụng kiếm, bởi trước đó thanh kiếm chỉ được coi là thứ vũ khí giết người.

Khởi đầu của bộ môn nghệ thuật kiếm phải kể tới kiếm sư Sekishu - người sáng lập trường phái Yagyu Shinkage dưới sự bảo trợ của tướng quân Tokugawa Ieyasu. Ông đã truyền giảng cho môn sinh của mình khái niệm về sự cảm nhận tâm linh đạt được qua việc tập luyện kiếm thuật.

Con trai của ông là Munenori (1571 - 1646), một kiếm sĩ tài ba sau này đã biên soạn cuốn Fudochi - shinmyoroku mà nội dung chủ yếu kể về kinh nghiệm trực ngộ "Thiện đạo" trong kiếm thuật.

Yagyu Shinkage cũng như Maniwa Nen, Shinkatato, Ono hay Intto là những trường phái tiên phong trong khuynh hướng chuyển từ Kiếm thuật sang Kiếm đạo (Kendo). Đồng thời đưa kiếm tre (Shinai) vào luyện tập và thi đấu. Kiếm tre ban đầu được chế tạo bằng cách dùng 4 mảnh tre dài ghép lại đút vào một cái bao dài bằng da cóc hoặc da thuộc chưa có miếng lá chắn che tay (Tsuba).

Sau này nó được cải tiến với bao vải thay thế bao da, thêm miếng lá chắn vào và có trọng lượng gần bằng kiếm thuật song có hình dạng thẳng.

Đến thế kỷ 18, kiếm tre và sàn tập bằng gỗ trở nên phổ biến tại các trường phái dạy kiếm, hơn thế có các dụng cụ hỗ trợ tập luyện như: giáp che ngực, mũ che đầu, găng tay bảo vệ... cũng được cách tân từ binh giáp truyền thống để trang bị cho môn sinh theo học kiếm đạo.

Sang thế kỷ 19, kiếm đạo phát triển rộng trong quần chúng cũng như nhiều môn võ khác, và nó không chỉ thu hẹp trong giới Samurai. Bằng chứng là đă có rất nhiều cuộc biểu diễn kiếm đạo được tổ chức cho công chúng xem tại những nơi sinh hoạt công cộng.

Cuối cùng, giờ đây kiếm đạo đã trở thành một trong những nét văn hoá đặc trưng truyền thống mà mỗi khi nhắc tới văn hoá Nhật Bản chúng ta không thể không kể tới sự góp mặt của nó.

Có một sự kiện làm thay đổi làng võ Nhật Bản, ảnh hưởng trực tiếp đến kiếm đạo xảy ra vào năm 1882, khi võ sư thiên tài Jigoro Kano bắt đầu truyền bá môn Nhu đạo (Judo). Ông đã dày công nghiên cứu sửa đổi, sáng tạo thêm từ môn Nhu thuật (Jujitsu) cổ truyền, và cũng từ đó kiếm đạo bắt đầu thâm nhập vào học đường.

Đến năm 1912, cùng với Nhu đạo, Kiếm đạo được chính thức đưa vào chương trình huấn luyện thể dục ở bậc Trung học áp dụng trên toàn nước Nhật. Tìm hiểu Văn hoá Nhật Bản nói chung và kiếm đạo nói riêng chắc chắn bạn sẽ không thể bỏ qua cái mốc quan trọng đó.

Angel's BlogIf you download file in this blog
I - recommend "Right click and Save Target As" and save to your hard disk before opening
For IE only

Rèn Kiếm

Rèn kiếm (kitaeru)



Kitaeru được coi như một trong những truyền thống cần phải bảo tồn cùng với nhiều bộ môn nghệ thuật khác để duy trì tinh thần đặc thù của người Nhật. Lẽ dĩ nhiên rèn không phải nói về nghề thợ rèn một cách tổng quát mà là kỹ thuật rèn kiếm, một truyền thống lâu đời được coi trọng, vì thanh kiếm không phải chỉ là một món khí giới mà còn tượng trưng cho tinh thần cao thượng của võ sĩ đạo.


Thanh kiếm của người Nhật không phải chỉ là một lưỡi dao dài dùng làm vũ khí mà mang theo rất nhiều ý nghĩa. Trong quá trình chế tạo, người ta không những phải thử để xem nó có đủ sắc để xuyên qua nhiều lớp áo giáp bằng sắt mà có khi còn thí nghiệm ngay trên thân xác con người để coi có "ngọt" hay không?


Người Trung Hoa cũng như người Việt Nam cũng chú trọng đến kiếm nhưng quá lắm chỉ coi như một kỹ năng cần điêu luyện, trái lại người Nhật lại nâng thanh kiếm và cách sử dụng lên hàng "đạo" – kiếm đạo (kendo) – và thanh kiếm gắn liền với sinh mạng và nhân cách của người kiếm sĩ (samurai).


Trong khi kiếm Âu Châu chỉ là một lưỡi thép duy nhất, kiếm Nhật bao gồm lá thép, sắt non và thép già, mỗi loại có hàm lượng carbon khác nhau. Lõi của thanh kiếm (shingane) được rèn bằng cách pha trộn giữa sắt thô với thép lá. Sau đó mới là vỏ bao bên ngoài (hadagane) cái lõi đó cũng bằng kỹ thuật trên nhưng dùng sắt non và thép lá. Vỏ bao có thể cần dát ra rồi gập lại 15 lần nhưng nếu nhiều hơn nữa có thể làm thép trở nên dòn và không đều. Lưỡi kiếm sau đó được chêm vào giữa những lớp vỏ bao, rèn cho thật liền lạc khít khao. Lớp vỏ mềm giúp cho cái lõi cứng ở bên trong, khiến cho lưỡi kiếm chịu được va chạm mạnh, dẻo dai hơn kiếm đúc theo kiểu Âu tây.



Người Nhật cũng dùng phương pháp bao một lớp vỏ mềm bên ngoài để tạo nên những làn sóng trang điểm cho lưỡi kiếm. Khi ruột kiếm đã chèn vào giữa và hình dạng đã hoàn thành, một loại hợp chất đặc biệt gồm tro rơm và bùn đỏ được trét lên trên mặt lưỡi kiếm rồi để cho khô. Sau đó người ta dùng một thanh tre để khắc lên lớp bùn những hoa văn rồi lại để vào trong lò nung tiếp, lấy ra khắc theo mẫu lên lưỡi kiếm để đến khi chà láng những hình vẽ đó sẽ hiện ra. Trong giai đoạn này lưỡi kiếm được bao bằng đất và tro kia phải nóng đến mức có "màu của Mặt Trăng tháng 2 hay tháng 8". Lớp bùn đó chỗ dày chỗ mỏng, thường ở lưỡi kiếm mỏng nhất, các nơi khác dày hơn để khi nung lưỡi kiếm sẽ cứng mềm khác nhau tuỳ theo từng khu vực. Lưỡi thép, phần cứng nhất của thanh kiếm mà người ta gọi là hamon có những hạt khác nhau gọi là nienioi. Nie (nước sôi) tượng trưng cho tinh thần hùng dũng, cứng cỏi, nioi (hương thơm nhìn được) tượng trưng cho sự cao thượng, quí phái. Những hạt này có được do sự gập đi gập lại và cũng là một thứ dấu hiệu của mỗi trường vì mỗi phương pháp có những vân riêng. Nioi mắt thường không trông thấy, chỉ gợn lên một làn sương mỏng như giải ngân hà một đêm sao. Hạt nie thì to hơn, trông lấm tấm như móc buổi sáng hay một chùm tinh tú. Những ba văn (hamon) đó được đặt tên, hoặc mây, sóng biển, dãy núi, hoa ... cũng giống như người Trung Hoa đặt tên cho vân trên bảo kiếm của họ. Người thợ không phải chỉ đúc một thanh kiếm tốt mà còn làm sao cho mỹ thuật, đó mới thực là vấn đề.



Nét cong của thanh kiếm Nhật không phải chỉ do kỹ thuật rèn hay đập mà còn là một biểu trưng văn hoá xuất hiện trên nhiều công trình truyền thống khác, từ mái cong trên đền đài, chùa chiền, cung điện, kể cả thư pháp. Người Nhật vẫn cho rằng nếu đúc một thanh kiếm thẳng băng thì không những thô kệch mà còn quá thực dụng, không nói lên tính nghệ thuật của người võ sĩ. Chính vì thế, họ luôn luôn tạo những đường cong, uốn lên lượn xuống để biến một vũ khí chiến đấu thành một tác phẩm. Tiến trình rèn thép, các loại chất liệu trong mỗi giai đoạn đến nay vẫn còn là những bí mật nghề nghiệp không truyền ra ngoài và cũng là thước đo sự tài hoa, khéo léo cũng như "tay nghề" của các bậc sư.


If you download file in this blog
I - recommend "Right click and Save Target As" and save to your hard disk before opening
For IE only

Kiếm Nhật-Lịch sử

Lịch sử

Theo định nghĩa của người Nhật thì vũ khí mà chúng ta gọi là kiếm Nhật được gọi dưới cái tên katana tức là đao (theo chữ Hán) nhưng thường được hiểu là trường kiếm. Ngoài katana, người Nhật cũng còn tachi, nodachi cũng là một loại kiếm dài, wakizashi là một loại đoản kiếm, aikuchitanto là những loại kiếm ngắn giống như dao găm hay chủy thủ. Có khi thanh tanto được người phụ nữ, người vợ của các samurai Nhật Bản sử dụng để bảo toàn danh tiết.



Người Nhật đã có một truyền thống rèn kiếm lâu đời. Kiếm, ngọcgương là ba bảo vật truyền quốc, được coi như biểu chương của hoàng gia (imperial regalia), thờ tại đền ở Ise gần hoàng cung cũ ở cựu đô Nara cũng là những linh vật trong thần đạo (shinto).



Ngay từ thời đại KofunNara (300-794) đầu Công nguyên, nước Nhật đã sử dụng kiếm, hồi đó lưỡi kiếm thẳng và dài chừng 80 cm theo mẫu mực của Trung HoaTriều Tiên. Đến thế kỷ 8, đầu thế kỷ 9 người Nhật bắt đầu đúc kiếm có hình cong ở gần cán rồi dần dần cong hoàn toàn.



Thời đại Heian sau đó (794-1185), nước Nhật bước vào một thời kỳ văn hoá khá rực rỡ. Xã hội nhiều giai cấp trong đó giới võ sĩ (samurai), giới tăng nhân (warrior monks) trở thành những lực lượng quan trọng được triều đình thuê mướn để bảo vệ lãnh thổ. Thanh kiếm đã không chỉ là một võ khí mà đã trở thành một tác phẩm, vừa thanh tú vừa mỹ thuật.


Người ta cũng bắt đầu khắc tên và nơi chế tạo trên chuôi kiếm, hiệp sĩ cũng mang theo những thanh kiếm ngắn hơn để thay đổi. Ngoài kiếm nhiều loại chiến cụ khác cũng phát triển điển hình là cung tên, giáp trụ và nghệ thuật binh bị cũng đạt một tầm vóc mới.


Người Nhật tìm ra cách đúc kiếm nhiều lớp bằng cách rèn dài và mỏng phôi sắt sau đó cắt đôi, nung lên rồi chập hai nửa lại tiếp tục rèn, tạo được những vân thớ (jihada) khác lạ được gọi dưới những tên như itame, masame, mokume, ayasugi (long tuyền đối nguyệt), khiến những lưỡi kiếm cấu thành từ hàng triệu lớp thép, vừa dẻo dai vừa cứng rắn. Những vân đó có khi giống như mắt gỗ nhưng cũng có khi uốn lượn như làn sóng. Thanh kiếm không còn là một vũ khí mà đã thành một tác phẩm mỹ thuật.




Võ sĩ Nhật trong bộ giáp đi trận và đôi gươm - do Felice Beato chụp (khoảng 1860)


Võ sĩ Nhật trong bộ giáp đi trận và đôi gươm - do Felice Beato chụp (khoảng 1860)



Các thợ rèn thuộc tỉnh Soshu tìm ra được cách pha trộn thép mềm với thép cứng để làm lưỡi kiếm, vẫn sắc bén mà lại ít bị mẻ. Họ cũng tiêu chuẩn hoá chiều dài và cải thiện mũi kiếm để khi kiếm bị gãy vẫn có thể mài và dùng tiếp. Trước kia kiếm Nhật chỉ uốn cong nơi gần cán nay từ từ cong đều và cũng thuôn dần ra tới tận mũi. Người Nhật cũng chế tạo loại giáp trụ nhẹ hơn để bộ binh dễ di động, dễ phân tán đồng thời nghiên cứu cách dùng kiếm đánh sáp lá cà thay vì dùng cung bắn từ xa.



Phong tục cổ truyền của Nhật Bản là khi gia đình sinh một đứa con trai, mỗi người dân làng sẽ đến mừng cho quý tử một ít mạt sắt. Sắt đó sau này, khi cậu bé trưởng thành, sẽ được một kiếm sư rèn thành kiếm cho cậu. Trước khi rèn một thanh kiếm, bao giờ kiếm sư cũng trai giới, cầu xin thần linh phù hộ và sau đó mặc lễ phục để làm việc. Người ta nói rằng kiếm sư rèn kiếm không còn là một công việc mà là một nghi lễ, thân tâm hợp nhất và tập trung toàn bộ tinh thần từ khi bắt đầu cho tới khi hoàn tất.


Thời kỳ nước Nhật chia thành hai gọi là Nam Bắc triều (1333-1393). Thời kỳ này đánh dấu cao điểm của thuật đúc kiếm. Lưỡi kiếm bây giờ dài đến 1 mét gọi là no-dachi và kiếm đúc cho đền đài có khi còn dài hơn. Kiếm dài có lợi thế cho người đi bộ và chiến đấu trong đêm tối nên thường đeo sau lưng và rút ngược lên qua vai.


Khi ra ngoài người ta đeo trường kiếm (katana) và đoản kiếm (wakizashi) nhưng khi ở trong nhà thì chỉ đeo đoản kiếm và được tháo ra đặt ngay cạnh giường khi đi ngủ. Đối với người võ sĩ, thanh kiếm là vật bất ly thân, không rời xa trong bất cứ trường hợp nào.



Người Âu châu đã vô cùng kinh ngạc khi thấy kiếm Nhật hơn hẳn các lưỡi kiếm của người Tây Ban Nha nổi tiếng ở Âu Châu. Bộ đại từ điển Britannica của Anh (in lần thứ 6), quyển 9 trang 37 viết là "kiếm Nhật có thể chặt đứt một chiếc đinh lớn mà lưỡi kiếm không hề hấn gì". Trong lịch sử chiến tranh Trung-Nhật, có sĩ quan Nhật đã từng dùng thanh kiếm chém hàng rào thép gai dễ dàng như chém chuối.

Bức Tường Lửa

.Phần 1 - Bức Tường Lửa

Con đường vao mạng internet thế giới của Việt Nam được đặt tại Hà Nội. Điều đó có nghĩa là tất cả mọi thong tin in out đều phải đi qua con đường độc đạo này.Firewall là cách mà các ISP khóa một địa chỉ website không cho người dung truy cập thong qua proxy của mình

Phần 2 - Để vượt bức tường lửa.

Co một số cach để vược khỏi bức tường lửa . Đa số cac cach nằm trong bốn loại sau đay : 1) giấu tung tich của địa chỉ, 2) dung những trang đã được lưu trữ sẵn, 3) dùng dịch vụ của cong ty chuyển thư WebMailer.

Tóm tắt những cach vượt bức tường lửa:

1.Giấu tung tich của địa chỉ muốn tới

Đây là cách nhanh nhất để truy cập những trang bị cấm. Co nhiều trang tren mạng internet giúp chúng ta giấu địa chỉ truy cập để qua mắt được Hà Nội. Bạn vào hai trang này,đánh địa chỉ trang mà bạn nghĩ đã bị block .Sau đó vi vu xem nội dung mình cần
France


Poland





Germany







Ngoai những trang nay ra, bạn co thể vo www.google.com va đanh vo chữ web anonymizer hoặc web mailers để tim them những trang tương tự. Mong bạn co thể tim thấy những trang chưa han hạnh được vo sổ đen bức tường lửa của nha nước.

2.Dùng những trang được lưu trữ sẵn

Những trang được lưu trữ cũng giống như một cuốn sách lịch sử. Dịch vụ lưu trữ những trang internet được miễn phi tại cac địa chỉ sau đay: www.archive.org va www.google.com. Cũng giống như phần trên, khi bạn truy cập www.archive.org, bức tường lửa sẽ không biết bạn đang truy cập những gi. Www.archive.org rất dễ xai, bạn chỉ việc vô đó và đánh tên địa chỉ mình muốn tới, thì dịch vụ nay sẽ cho bạn thấy trang www.lmvntd.org được lưu trữ. Dịch vụ lưu trữ nay thường không cho ta thấy trang internet trực tiếp nhưng cho ta thấy trang này trong tình trạng được lưu trữ. Còn www.google.com thi cũng một phần tương tự. bạn chỉ bấm vô "Show Google's cache" thì sẽ thấy được trang lưu trữ

Trang internet nằm trong Thư Điện Tử - Webmailer

Kỹ thuật thư điện tử này rất khác với 3 cách trên. Thư điện tử webmailer cũng là một phương cach hữu hiệu để xem tin tức. Thư điện tử sẽ gíup bạn coi trang internet bị cấm trong thư email của bạn. Dùng một địa chỉ điện thư miễn phi như Yahoo hoặc Hotmail, bạn ghi địa chỉ muốn coi vo phần Subject: và gửi tới một địa chỉ dịch vụ internet miễn phi www.web2mail.com. Sau đó, dịch vụ nay sẽ gửi trang internet ma bạn muốn coi tới hộp thư điện tử của bạn.

Nếu bạn không muốn ai đọc email của bạn,

bạn hãy sử dụng kỹ thuật mã hoa gọi la encryption. PGP Encryption (www.pgpi.org) sẽ giup bạn sử dụng kỹ thuật nay nếu xai đung cach. Nhưng trang internet nay cũng hơi kho sử dụng. Cho nên cách thứ 2 là tới trang www.hushmail.com để đăng ký sử dụng. Cách này an toàn khi cả hai, người gửi lẫn người nhận, đều dùng www.hushmail.com.

Tôi muốn tẩy xóa dấu vết của tôi sau khi xài internet tại quán cafe?

Vào Tools / Internet Options. "Delete all offline content" va sau đó, "Delete Files", rồi "OK". Nếu thấy nút "Delete Cookies" hãy bấm vô nút đó luon. Sau đó, bấm vô "Settings" rồi bấm vô "View Files". Nếu mà còn một số file trong đây, bạn bấm Ctrl-A để chọn tất cả rồi bấm nút Delete. Cho chắc ăn, bạn cũng co thể bấm nút "Clear History" và bấm "OK". Bây giờ, bấm vô nút "Content" va sau đo vô nút "AutoComplete". Sau đó bấm vô nút "Clear Forms" và "Clear Passwords" để xóa tất cả mọi mật mã. Chúc may mắn.

If you download file in this blog
I - recommend "Right click and Save Target As" and save to your hard disk before opening
For IE only

văn “xì-tin”

Bà Trần Thị Nhung, Phó Hiệu trưởng trường THPT Marie Curie (Hà Nội), đã cho biết như vậy khi trao đổi về bài văn “xì-tin” của em Bùi Minh Thu - học sinh lớp 10G5 trường này.

Xin bà cho biết, bà nhận được thông tin về bài văn "gây xôn xao cư dân mạng" khi nào?

Khi bài văn đó lên mạng mấy ngày, tôi cũng đã được biết và đã đọc. Sau đó, chúng tôi gặp em Bùi Minh Thu là người có tên trong tờ giấy kiểm tra. Tôi đã phân tích để cho các em thấy tất cả các từ ngữ và các ý tưởng của bài văn này là không thể chấp nhận được.


Tìm hiểu về bài văn này, chúng tôi đã nhận thấy, thứ nhất, bài văn đó không phải là bài làm kiểm tra định kì. Đó là đề thi học kì năm trước của ban tự nhiên. Trong quá trình dạy và ôn tập, cô giáo đã sử dụng đề này như 1 bài tham khảo.

Thứ hai, tôi khẳng định đây không phải là chữ cô Nguyên, cô giáo dạy văn, đồng thời chủ nhiệm lớp 10G5 .

Em Thu cho biết, em viết bài văn này ở nhà và mang đến lớp cho các bạn đọc và mang về nhà ngay cuối buổi học đó. Bài văn này đã được mang bán giấy vụn cùng với các giấy vở cũ của em. Chính em Thu cũng không biết ai đã phê và đưa bài văn lên mạng.

Sự việc này, dưới góc độ của những người làm giáo dục, chúng tôi chỉ có thể nhắc nhở em, chỉnh đốn về tư tưởng và quan điểm, làm cho các em hiểu cái đúng cái sai để sửa chữa. Là môi trường giáo dục, chúng tôi hoàn thiện nhân cách cho các em chứ không thể xử phạt một cách cứng nhắc, nặng nề được.









Bài văn được lan truyền trên mạng viết trên giấy thi của trường Marie Curie.


Thưa bà, nhiều người cho rằng cách ra đề của bài kiểm tra: "Sau khi chết ở giếng Loa Thành, xuống thủy cung Trọng Thủy đã tìm gặp lại Mị Châu. Hãy tưởng tượng và kể lại chuyện đó". Yêu cầu tưởng tượng như thế đối với học sinh lớp 10 rất dễ làm cho các em có những suy nghĩ lệch lạc. Ý kiến của bà thế nào?

Đứng từ góc độ của một giáo viên dạy văn, các giáo viên đều muốn hình thành và phát triển trí tưởng tượng của các em. Và tất nhiên, trí tưởng tượng này phải mang tính nhân văn. Ngoài ra, giáo dục trong nhà trường cũng cần rèn luyện cho các em khả năng nghị luận.

Đề bài này năm trước đã được sử dụng để kiểm tra học kì và đã có được những thành công nhất định. Rất nhiều thầy cô đã phải trầm trồ về những bài văn hay với đề này. Đọc các bài như thế, các thầy cô cảm thấy toại nguyện lắm.

Chúng tôi lúc nào cũng chú ý rèn luyện rất cẩn thận cho các em. Có hàng ngàn học sinh, nhưng lỗi này chỉ rơi vào 1 em. Nó không mang tính đại trà. Dù vậy cũng làm chúng tôi rất buồn!

Bài văn của em Thu nằm ngoài sự mong muốn của những người ra đề, những người làm giáo dục như chúng tôi.


Dạy văn trong nhà trường ngoài vấn đề phân tích tác phẩm và nghệ thuật thì giáo viên cũng luôn rèn luyện cho học sinh có khả năng tưởng tượng, tư duy lôgic. Tất nhiên văn học luôn hướng tới việc nâng cao tâm hồn con người, hướng tới những giá trị tốt đẹp.

Tuy nhiên, những tác động của cuộc sống bên ngoài thì vẫn song song tồn tại. Cái quan trọng là học sinh phải tự biết lựa chọn.

Với bài văn trên mạng này, các thầy cô trong trường có hoài nghi về việc dạy văn của mình hiện nay không, thưa bà?

Chúng tôi cũng chỉ hoài nghi có 1 điều. Đó là, thế hệ trẻ tiếp cận với mạng quá nhiều và đã quá lạm dụng tiếng lóng. Chúng tôi thấy mình phải cố gắng hơn nữa trong quá trình dạy dỗ các em.

Trong các tiết học, chúng tôi luôn trau dồi, trang bị những kiến thức cho học sinh. Nhưng những tác động của xã hội vẫn có ảnh hưởng, tác động tới các em là quá lớn.

Giả sử phải chấm điểm bài văn ấy, bà sẽ cho bài văn mấy điểm?


Với cương vị của một giáo viên dạy văn, tôi không thể chấm điểm cho bài văn này được. Tôi không thể cho bài văn này điểm 0 (không), không thể cho điểm 1 (một), cũng không thể phê. Thế đấy! Tôi phải gọi riêng học sinh của mình lại để nói chuyện, phân tích cho em hiểu, nhận ra những điểm sai lệch.

Xin cảm ơn bà!











Nhà tâm lý Trịnh Trung Hoà:
Như em học sinh 10G5 này đã nói, đây không phải bài tập làm văn gửi cho cô giáo chấm mà do em tình cờ có được một tờ giấy thi thừa ra thì viết chơi rồi vứt đi như một trò đùa và chính em cũng quên đi không nghĩ đến nữa.




Mọi người, nhất là những người đang tuổi teen, ai cũng có thể có những trò nghịch như vậy, không có ý gì khác ngoài việc viết nghịch ngợm cho vui. Vì vậy tôi thấy không nên coi đây là chuyện nghiêm trọng hoặc qua những dòng viết nghịch ngợm đó để đánh giá người viết.



Tuy nhiên đoạn viết ngắn đó cũng nói lên một vấn đề là tuổi teen bây giờ khá rành nhiều chuyện tiêu cực của đời sống xã hội như rùa ăn hối lộ mới cấp giấy phép đi lại dưới thuỷ cung, như chuyện mặc cả ngã giá giữa một nhân vật trong truyện và một gái “bán hoa”, chuyện vợ vừa ra khỏi nhà chồng đã ngoại tình, chuyện cờ bạc lô đề … Những chuyện này có thể các em thấy ngoài đời hoặc có thể do đọc được trên báo chí, trên mạng.



Nhưng dù bằng cách nào thì cũng chứng tỏ là tuổi teen ngây thơ trong trắng của các em đã biết quá sớm những mặt trái của xã hội và miêu tả một cách khá thành thạo. Từ đó các thầy cô giáo cần có sự uốn nắn, giáo dục kịp thời để các em trở lại với tuổi teen trong trắng của các em.




If you download file in this blog
I - recommend "Right click and Save Target As" and save to your hard disk before opening
For IE only

Making a Katana

Making a Katana



The steps below illustrate the main stages in creating a katana



A wall hanging display is available which contains blades from each stage of the creation process, see below for more information




1) Rough Forging


The blade is formed by hot forging a billet
of high-carbon steel. The repeated hammering provides an
even dispersion of carbon throughout the steel for uniform
strength of the finished blade.





2) Rough Shaping


The scale is removed and the blade is shaped
roughly to the required dimensions. At this stage, the steel is still in
the annealed (soft) state and the blade is straight.






3) Clay Covering


A special clay is applied to the blade by
hand, using a thin covering near the edge and a thicker
layer over the rest of the blade. This results in a relatively
quicker cooling of the edge during quenching, producing a
hard edge and softer back.






4) Quenching


This is a critical part of the operation. The blade,
with its clay covering, is heated to a predetermined temperature
and quenched in a water bath. The shape and continuity of the
hamon, the sori (blade curvature), and blade straightness are all
determined by the care and skill exercised in quenching.





5) Sizing


The sori is adjusted if necessary, to set the point
of balance and point of percussion, and de-scaled. Rough
polishing is carried out to size the blade accurately. The
habaki (blade collar) is fitted.






6) Finishing


Careful final polishing and fine finish work are carried
out on the various surfaces to define ridgelines and bring out the
beauty of the hamon.






Saya


The saya is carved from two pieces of wood to match
the length, width, thickness and curvature of the finished
blade. The two halves are then wrapped in cambric and
lacquered numerous times. Final polishing gives the saya
finish a high gloss.





Handle


The handle core is comprised of two pieces of
hardwood carved to tightly fit onto the tang. Channels are
carved into the sides to facilitate two panels of ray skin.
The entire handle is then wrapped with high quality woven
cotton while small paper triangles are used to help shape
the wrap correctly. The Menuki and Kashira are added during this process.






Sageo


The sageo is typically woven of high quality cotton
to match the handle wrap. In some cases, the sageo is still
woven by hand (see Paper Crane next page), this process
requires many hours of skilled hand labor but allows thematic designs to be carried into the sageo.






Assembly


Finally all the pieces can be assembled and the
handle securely fastened to the tang. This is accomplished
with the addition of two bamboo pegs through the handle
and tang.





Parts of a Samurai Sword


The large image below details every part of a samurai sword, giving the traditional name and the english translation





Katana Forging Process Display (OH2154)



This is an elegant display articulating the highly skilled process of forging and polishing a high carbon steel
Katana blade. Each step in the process is clearly displayed and explained, using smaller (18½”) versions of Katana blades that
have undergone exactly the same processes as full-sized blades. This display is both aesthetically pleasing and highly educational.


If you download file in this blog
I - recommend "Right click and Save Target As" and save to your hard disk before opening
For IE only