Tìm kiếm blog này

Người mẹ đan quần cho con tới 25 tuổi trước khi chết

Phanblogs Người mẹ đan quần cho con tới 25 tuổi trước khi chết Câu chuyện về tình mẫu tử thiêng liêng của một bà mẹ Trung Quốc bị bệnh ung thư xương đã khiến không ít độc giả rơi nước mắt, có người còn đề xuất đưa vào giảng dạy trong trường phổ thông.


“Trên đời này chỉ có mẹ là tốt, đứa trẻ nào có mẹ đều giống như vật báu…”, cậu bé 9 tuổi Trương Vũ vừa hát, nước mắt vừa chảy dài trên má. Mẹ của Trương Vũ bị mắc bệnh ung thư và không biết tới lúc nào sẽ từ bỏ em ra đi.


Trong thời gian được bác sỹ dự đoán số ngày chạy đua với “tử thần”, mẹ của Trương Vũ đã dành thời gian đan được cho các con những chiếc quần len tới tận khi Trương Vũ 25 tuổi, như những món quà ấm áp dành tặng con trai sau khi từ giã cuộc đời.

Gia đình Trương Vũ vốn không có nhà ở, nhiều năm nay phải ở nhờ nhà một người họ hàng. Trương Vũ còn có một anh trai 17 tuổi, cả năm ở ký túc trong trường. Trước khi lâm bệnh, mẹ em bán bánh nướng còn cha thì đi làm thêm bên ngoài.

Tháng 7/2004, mẹ của Trương Vũ được chẩn đoán mắc căn bệnh ung thư xương. Sau khi phẫu thuật, bà đã hoàn toàn mất khả năng lao động. Kể từ đó, mỗi ngày bà đều dành thời gian để đan quần len cho các con. Tháng 9 năm nay, bà đã từ giã cõi đời sau khi đan được những chiếc quần cho con trai tới tận năm 25 tuổi.


những chiếc quần cho con trai tới tận năm 25 tuổi. 


Nhìn những chiếc quần len được xếp ngay ngắn trên giường, ai cũng bồi hồi xúc động. Bà ngoại của Trương Vũ cho biết, tuy trước đây gia đình cố ý giấu tình hình bệnh tật của mẹ Trương Vũ nhưng cô vẫn dự cảm được về sức khỏe của mình.


Sau khi phẫu thuật, cô có nói với gia đình là sẽ đan quần len cho các con. Vì đã từng phẫu thuật đùi nên mẹ của Trương Vũ chỉ có thể ngồi trên giường đan len, do sức khỏe yếu nên cứ 5 phút ngồi đan cô lại phải nằm xuống nghỉ 20 phút.

“Một lần, nó (mẹ Trương Vũ) vừa đan được hai phút là đã đổ mồ hôi hột, hai cánh tay sưng vù lên, toàn thân đau đớn. Tôi bón cho nó hai viên thuốc giảm đau rồi khuyên đừng đan nữa, nhưng nó vẫn kiên quyết lắc đầu nói rằng nhỡ mình chết đi, con trai bé nhất mới chỉ có 9 tuổi, không ai chăm sóc nên phải tranh thủ lúc còn sống đan cho chúng ít quần len để các cháu lớn lên mặc”.

Cô giáo của Trương Vũ cho biết, Trương Vũ tuy còn bé nhưng đã rất biết nghĩ và chịu khó học hành. Trong thời gian phóng viên ghé thăm, Trương Vũ luôn vuốt ve những chiếc quần mà mẹ để lại, mắt ngấn lệ: “Mẹ ơi, con nhớ mẹ, mẹ ở đâu?”.

Luận ngữ Tân thư

Phanblogs


Chuyện đời cong, thẳng và trong, đục…


Trong kiệt tác kiếm hiệp kiêm chính trị cổ điển Tam quốc diễn nghĩa, La Quán Trung tiên sinh từng ca ngợi cây dâu cổ thụ mọc trong sân nhà anh thợ đóng dép Lưu Bị là linh mộc, là hiện thân của phong thuỷ, đến nỗi bịa ra một ông thầy, đi qua nhìn thấy cái cây ấy bèn phán: "Cây dâu này mọc thẳng tắp, tán xoè như cái ô. Nhà ở dưới gốc cây này ắt sinh quý nhân." Quý nhân ấy chẳng phải Lưu Huyền Đức thì còn ai vào đây nữa. Cây dâu đó là cái ô Trời, là bản mệnh sự nghiệp của Lưu Bị sau này. Quả là về sau, Lưu Bị nhờ có cái bản mệnh ấy mà gặp được khối người ngay thẳng. Trong số đó, người quan trọng số 1 phải kể đến là vị quân sư Gia Cát Lượng (Khổng Minh). Thế nhưng La Quán Trung tiên sinh đã "lờ" đi không chép việc cái “ô” vĩ đại ấy rồi cũng đến lúc đổ kềnh. Số là một hôm, trời nổi bão giông. Cây dâu cổ thụ bỗng nghiêng ngả, quay cuồng rồi đổ sập xuống, đè nát đúng bàn thờ nhà Lưu Bị. Lúc ấy Lưu Bị đã lên ngôi hoàng đế bên đất Thục. Giá như ông thầy kia lại nhìn thấy, chắc thể nào cũng bảo vị quý nhân nhà này có nhẽ sắp đến lúc… toi. Quả nhiên một thời gian ngắn sau đó, Thục chủ Lưu Bị gặp hạn ở thành Bạch Đế rồi “toi” luôn tại đó. Trước khi chết, ngài không ngại nước Ngụy của Tào Tháo, cũng chẳng thèm ngại nước Ngô của Tôn Quyền. Ngài chỉ ngại mỗi… quân sư Khổng Minh mà thôi. Vì thế ngài đã phải triệu Khổng Minh đến tận giường bệnh mà chơi bài ngửa, tiếng là gửi gắm con côi, song lại "thòng" một câu rùng rợn rằng nếu nó bất tài, thì hay là ông thay nó, làm chủ quách nước Thục đi! Lưu Bị nói thế là có ý muốn "đe” Khổng Minh, rằng ta biết tỏng ông là người như thế nào rồi. Trước khi gặp ta, ông có tiếng là một người ngay thẳng. Ông bắt ta phải ba lần hạ cố mới chịu ra, giả vờ không thèm màng đến danh vọng. Có thật ông không thèm màng danh vọng? Sao ở lều tranh mà ông theo dõi việc thiên hạ kĩ thế? Lại còn lặn lội đi gài sẵn "thạch trận" ở những đâu đâu. Giờ ta mới biết ông rất có tài ảo thuật, dễ dàng mê hoặc được lòng ngưỡng mộ của thiên hạ không chỉ trong một vài đời. Ông mẹo vặt có thừa, song bụng dạ lại hẹp hòi. Trong thiên hạ, bất cứ ai tài hơn, ông cũng tìm cách chiêu nạp về rồi nghĩ kế trừ đi. Đã mượn tay Trương Nhiệm giết ngóm một Bàng Thống ngây thơ cả tin, kẻ "học giỏi gấp mười ông" (ý này do chính ông từng nói ra), lại còn định chém Ngụy Diên ngay trước mắt ta. Ham hố danh tiếng như ông thì sau khi ta chết đi rồi, dẫu có làm chuyện thoán nghịch cũng chẳng có gì lạ… Khổng Minh lúc đó sợ toát mồ hôi, vội vàng sụp xuống dập đầu thề lấy thề để (thề cá trê chui ống). Màn chơi bài ngửa này tuy chỉ có Lưu Bị và Khổng Minh biết, song khó mà che được cặp mắt thế gian. La Quán Trung về sau nhân đó cũng “lờ” đi cho văn vẻ sạch sẽ, sử sách trơn tru. Ấy là cái truyền thống chép sử xưa nay nó thế. Sử sách vốn chỉ ưa chép những chỗ thơm mà giấu nhẹm đi chỗ thối. Và La Quán Trung đã tỏ ra là một người chép sử khéo, song lại là một tay kể chuyện tồi, bởi ông vẫn để lộ những chỗ thối của lịch sử ra. Lưu Huyền Đức quả có con mắt tinh đời. Về sau, chỉ vì ghen tài mà Khổng Minh đã quyết không thực hiện diệu kế của Ngụy Diên, lại còn dùng lời lẽ ngụy biện để chê bai, dè bỉu. Rốt cuộc cả 6 lần đem binh ra Kì sơn đều công cốc, đến nỗi thân phải bỏ ở gò Ngũ Trượng. Thế mà trước khi chết vẫn còn nghĩ kế để giết Ngụy Diên cho bằng được. Vị quân sư ngay thẳng ấy thù dai hay sợ Ngụy Diên sau này được đắc dụng thì sẽ thành công hơn mình? Vì thân mà hy sinh béng cả cơ nghiệp của chúa như thế, chẳng trách nước Thục do Lưu Bị tốn công gây dựng chẳng bao lâu cũng mất toi về tay cha con Tư Mã Ý, không để lại được chút hơi hám gì. Vậy thì cái điềm cây dâu cổ thụ kia bị đổ, làm nát cả bàn thờ nhà Lưu Bị quả là nghiệm lắm. "Mệnh" trời quả không thể xem thường. Tuy thế, song những màn "ảo thuật," những "mẹo" vặt của Khổng Minh vẫn được người đời thích thú, tôn sùng, đã lưu truyền được danh tiếng lẫy lừng của ông cho đến tận bây giờ. Danh tiếng ấy bao đời nay át cả Lưu Bị, đến mức bất cứ ai nghe thấy cũng phải trợn mắt thán phục. Thế thì có thể nói rằng Khổng Minh mới chính là người đã "vớ" được Lưu Bị, còn Lưu Bị, là người đã "vớ" phải Khổng Minh vậy.




Tóm lại, việc đời thường tuân theo quy luật quân tử khởi xướng, tiểu nhân a dua, quân tử thiệt thân, tiểu nhân thủ lợi. Cho nên cái triết lý "đầu voi đuôi chuột” dẫu chẳng ra gì, vẫn luôn tỏ ra đúng với mọi thời đại. Cái “ô Trời” ấy ở nhà Lưu Bị ban đầu dẫu có mang cái “lý” của một “con voi,” thì cuối cùng, "con voi" ấy vẫn phải có lúc đổ kềnh. Và một khi nó đã đổ, thì kết quả bao giờ cũng vô cùng thảm hại. Việc của Trời Đất còn như thế, huống hồ là việc của con người. Một cây cổ thụ còn như vậy, huống chi những loài cỏ lác. Vậy mà có kẻ vẫn còn muốn bền vững muôn năm? Có biết đâu rằng cái tử tế mãi chính là cái đáng nghi nhất trên đời. Cứ xem những sự khởi đầu và kết thúc của mọi cuộc đổi thay trên thế gian này thì biết. Sự thật rốt cuộc chẳng mang tí dáng dấp nào của những bản tuyên ngôn kinh điển viển vông. Tuy rằng cây dâu kia ở nhà Lưu Bị (có vẻ) chẳng liên quan gì đến Khổng Minh. Song việc mọc thẳng của nó hoá ra lại là một cái "triệu" bất tường. Thật chẳng biết rồi nó sẽ đổ về phía nào để mà đề phòng vậy. Giá như nó đừng đứng thẳng, mà cứ cong hẳn về một phía, để ông cha Lưu Bị cất nhà ở bên phía ngược lại, thì bàn thờ nhà ông đâu đến nỗi bị đập nát, và duyên trời biết đâu đã chẳng dun rủi cho ông gặp phải con người cũng có tiếng ngay thẳng là Khổng Minh? Tưởng gặp phúc mà thành ra vô phúc, tưởng kì duyên mà lại hoá vô duyên. Chắc chỉ có giời mới đùa nổi kiểu ấy. Trên đời, có ai lại ngu đến mức không tự nhận mình là người ngay thẳng, nhất là những hạng được coi là kẻ sĩ. Thế nhưng so với cái trò đùa ghê gớm ấy của cơ trời, thì sự dối trá kinh niên của con người xem ra chẳng thấm tháp vào đâu.


Ấy là chuyện cong, thẳng. Thế còn chuyện trong, đục… thì như thế nào?


Có một vị hoàng đế (mà người viết không nhớ rõ cụ thể là ai), vốn được các bầy tôi, lâu la xưng tụng là bậc thánh, đạo đức trong vắt như pha lê, không hề gợn chút dơ đục nào của cuộc đời. Một hôm cải trang vi hành (tất nhiên ngài sẽ đến lầu xanh. Bởi lầu xanh bao giờ cũng là đích cuối cùng của mọi cuộc vi hành trên thế gian này), ngài vớ được một cô gái đẹp lắm, mắt liếc như thu ba, thân hình ngon như đùi gà rán. Bèn tán tỉnh rồi đưa nhau vào phòng trọ. Lâu lắm rồi hoàng đế mới được một phen thoả chí mày mò trên thân xác của một ả thần dân như vậy. Đang lúc hứng đến cao trào, vị hoàng đế bỗng buột mồm ngôn ra một lời dạy mà các thần dân của ngài ai ai cũng thuộc lòng từ thuở lên ba. Ngay lập tức, cô gái kia phát hiện ra chân tướng của ngài và kiên quyết cự tuyệt. Ngài năn nỉ thế nào cũng vô ích. Đành tiếc nuối nuốt nước bọt, mặc quần áo vào rồi than thở, rằng giá ta đừng mang tiếng là một kẻ đạo đức trong suốt như pha lê thì có phải đỡ thiệt thòi. Đằng này… Té ra lũ bầy tôi kia sở dĩ xưng tụng ta như thế đâu phải vì chúng yêu ta, mà chính vì cái lợi ích của chúng…


Sách Phật kể rằng trong một kiếp, Đề Bà Đạt Đa và Phật cùng đầu thai làm con cá chép. Con cá chép là Đề Bà Đạt Đa chỉ thích bơi vào chỗ dòng nước trong vắt để phô bày cái hình dáng tuyệt đẹp của mình. Những giống xấu xí khác như cá mại, cá mè, cả lũ đòng đong cân cấn cứ rùng rùng bám theo, vừa bơi vừa luôn miệng trầm trồ. Trái lại, con cá chép là Phật thì chỉ luẩn quẩn trong những chỗ nước đục, chẳng con nào thèm để ý tới làm gì. Một bữa có con chim bói cá đậu trên cây nhòm xuống. Trong làn nước trong vắt, nó nom rõ con cá chép Đề Bà Đạt Đa, liền lao xuống đớp gọn rồi nuốt chửng vào bụng. Đề Bà Đạt Đa chui vào bụng con bói cá, chẳng bao lâu bị nó tiêu hoá, biến thành một cục phân. Con bói cá bay qua sông, ỉa cục phân đó xuống giữa đàn cá vẫn thường bơi theo Đề Bà Đạt Đa khi trước. Lập tức, từ cá mại, cá mè đến lũ đòng đong cân cấn đều tỏ ra hết sức ghê tởm. Con nào con nấy vội cố hết sức bơi vào chỗ nước đục để lẩn trốn. Sau đây là mẩu đối thoại giữa cục phân Đề Bà Đạt Đa và Phật:


"Ngài thấy tôi bây giờ so với trước thế nào?" - cục phân hỏi.


"Không khác gì cả" - Phật trả lời.


"Thế tại sao lũ mạt hạng kia giờ lại xa lánh tôi?" - cục phân hỏi tiếp.


"Bởi bây giờ chúng mới nhìn rõ ngài thực ra là cái gì" - Phật trả lời.


"Ôi! Giá như ta đừng chọn chỗ nước trong” - cục phân than thở.


Câu chuyện chỉ đơn giản thế. Vậy mà có một số học thuyết rất đứng đắn đã căn cứ vào đó để chứng minh một cách đầy thuyết phục, rằng Đề Bà Đạt Đa nếu không là thuỷ tổ của cả loài người nói chung, thì ít nhất cũng là thuỷ tổ của cái giống mũi tẹt da vàng.


Chuyện khác: trong một lần giảng giáo lý Đại thừa, một vị Tổ của thiền tông kể rằng kiếp trước ông từng là một con sáo. Một bữa đang bay lượn, chợt bắt gặp một quả bầu rất to. Bèn khoét một lỗ rồi chui vào. Bảy bảy bốn chín ngày nằm trong đó, chén hết già nửa ruột bầu thì bỗng ngộ ra ba nghìn thế giới. Mừng vì đắc đạo, vị thiền sư (con sáo) bèn chui ra khỏi quả bầu rồi bay mãi, bay mãi... Bầu trời trước mắt ông như khác hẳn, rộng bao la và thơm ngát mùi hương. Tất cả, từ một sợi lông cho đến những quả núi, cánh rừng… đều được thu vào cặp mắt chỉ bé bằng hai hạt tấm của ông. Mới hay sự đắc đạo là vô cùng thoả chí. Có lẽ ông sẽ bay mãi như thế, tự do tự tại, như lai như ý không gì câu thúc, không cần phải xác định phương hướng… nếu ông không vô tình bay qua một dòng suối. Dòng suối trong veo, nhìn thấu tận đáy. Nước suối ấy có thể rửa sạch mọi thứ. Có ai ngờ nó lại “rửa” luôn cả cái tâm Phật vừa mới được nhen nhúm trong ông. Soi mình xuống dưới, thiền sư bỗng thấy mình rõ ràng đang là một… con nhặng. Vậy mà vẫn không hề kinh ngạc (đã là thiền sư thì không bao giờ kinh ngạc). Có điều đôi cánh của con nhặng lúc đó dường như cứ bị hút về một phương nào đấy không thể cưỡng nổi. Lại bay mãi, bay mãi… Cuối cùng té ra ông lại trở về đúng cái quả bầu ấy. Bấy giờ nó đã thối nhủn từ bao giờ. Con nhặng là ông bị cái mùi thối ấy hấp dẫn, lập tức lao vào thò vòi ra hút lấy hút để… Thế là toi một kiếp tu hành. Toi từ lúc nào? Thiền sư hỏi rồi tự trả lời: không phải vì ông hút phải cái thứ ruột bầu thối tha ấy. Mà toi vào đúng cái lúc ông thấy mình là một con nhặng. Kể đến đây, thiền sư chép miệng: giá như dòng suối kia đừng có trong vắt như thế, mà nó đục ngầu, thì ông đã đắc đạo ngay từ kiếp đó rồi. Và câu chuyện ấy đã giải thích tại sao con người hiện đại ngày nay không thể trở thành thiền sư.


Cũng vẫn vị Tổ ấy, một hôm muốn truyền lại y bát, bèn hỏi đệ tử thứ nhất:


"Trước mắt con là hai cốc nước, một trong, một đục. Con chọn cốc nào?"


Đệ tử thứ nhất trả lời:


"Con chọn cốc nước trong."


Sư nhắm mắt không nói gì. Để tử thứ nhất lui ra. Đệ tử thứ hai vào. Thiền sư vẫn hỏi câu ấy. Đệ tử thứ hai trả lời:


"Con chọn cốc nước đục.”


Sư lại nhắm mắt không nói gì. Đến lượt đệ tử thứ ba. Nghe xong câu hỏi, đệ tử thứ ba lặng im hồi lâu. Sư hỏi:


"Sao con không trả lời?"


Đệ tử thứ ba bảo:


"Con không thể nào phân biệt được thế nào là trong, thế nào là đục…”


Sư liền trao ngay y bát.


3/2007





Dụng nhân bất như dụng mộc

Phanblogs

Gỗ có nhiều loại, có loại mềm có loại cứng, loại có vân ,loại gỗ thẳng, loại gỗ cong. Người thợ mộc giỏi là người biết xử dụng các loại gỗ cho phù hợp với mục đích của mình như gỗ cẩm lai ( gỗ quý) thì xử dụng cho việc làm bàn ghế, giường tủ, gỗ thường thì làm các pallet, gỗ cành ngọn thì làm củi, gỗ có hình dáng lạ thì làm đồ thủ công mỹ nghệ.
" Dụng nhân như dụng mộc" có hàm ý không có người nào là vô dụng, chỉ cần xử dụng đúng người đúng việc thì sẽ phát huy hiệu quả con người đó. Bởi vậy khi sử dụng người, đừng vội chê người này người nọ vô dụng mà hãy trách mình không biết sử dụng người.



http://www.cand.com.vn/Uploaded_CANDONLINE/thutrang/anh8_1159.jpg
Trí thức không phải là gỗ

Trong Luận ngữ có câu "dụng nhân như dụng mộc" (dùng người như dùng gỗ, gỗ cong dùng nơi cong, gỗ thẳng dùng nơi thẳng) nói về thuật dùng người của người có quyền dùng người, từ ông cai đến ông vua.

Thực ra lời dạy bảo của cụ Khổng không có gì sai. Nhưng nếu coi người lao động là những khúc gỗ những mẩu gỗ để dùng thì đó là một thứ lao động thụ động, cưỡng bức. E rằng chỉ thích hợp với thời mà cái tôi của mỗi người bị coi nhẹ, bị mua bán, tước đoạt bằng tiền hay bằng lừa mị để phục vụ cho ý đồ của người dùng, to thì mộng mưu bá vương, nhỏ thì kiếm lợi lặt vặt.

Đã không biết bao người thất bại vì dùng trí thức như dùng gỗ. Đơn giản vì trí thức không phải là những khúc gỗ.

...

(chỗ nghiêng do tôi tự nhấn mạnh) >>

Giật mình, vì mới cách đây mấy ngày, ngồi trò chuyện với Lam Điền, hắn nói về nhân sinh quan của thời đại là xem cái tôi, cái sự chủ động của cá nhân là vô nghĩa...

Giật mình, vì ngẫm lại mình (vẫn thường tự cho là trí thức) đã được sử dụng như khúc gỗ như thế nào!

Giật mình, vì ngẫm lại mình đã sử dụng người khác như khúc gỗ như thế nào!

Cuối bài, Nguyễn Quang Thân kết như sau: >

Cụ Khổng từng phán câu "dụng nhân như dụng mộc". Nhưng ở một chỗ khác cụ lại nói một câu rất hay: "Rất dễ dàng xông vào chỗ ba quân bắt sống soái giặc, nhưng không dễ gì đoạt được cái chí của kẻ thất phu!". Chỗ này cụ nghĩ rất thánh, ngay kẻ thất phu (huống hồ trí thức) không phải và không thể là gỗ. >

Giật mình cái nữa!

Cung cấp dịch vụ chăm sóc khách hàng chất lượng cao

Phanblogs 
Bạn có thể sử dụng dịch vụ chăm sóc khách hàng như một công cụ hữu hiệu để tạo sự khác biệt giữa bạn và các đối thủ cạnh tranh. Nó là một trong những thế mạnh mà một doanh nghiệp nhỏ có thể có được. Bằng cách tăng cường dịch vụ chăm sóc khách hàng, bạn có thể cạnh tranh với các công ty lớn hơn cho dù họ có sản phẩm đa dạng, chào giá thấp hơn và sử dụng các hình thức khuyến mãi khác mà bạn không có khả năng làm như họ. Song cũng có nhiều doanh nghiệp nhỏ làm không tốt công việc chăm sóc khách hàng. Tại sao vậy?  Hiểu biết kém là một lý do và thực tế cũng không có nhiều ví dụ về dịch vụ chăm sóc khách hàng tốt để làm mẫu cho công ty của bạn.
Để đảm bảo dịch vụ chăm sóc khách hàng của công ty bạn đạt ở mức cao nhất bạn phải tìm hiểu được những điều mà các đối thủ cạnh tranh của bạn đang làm và sau đó bắt chước làm theo nhưng làm tốt hơn. Bạn hãy đọc sách hoặc nghe băng ghi âm của những người đã nghiên cứu về các công ty có dịch vụ chăm sóc khách hàng tốt như Neiman Marcus và xem xem bạn có thể học được gì từ những đại gia này. Các doanh nghiệp nhỏ thành công luôn tìm cách để cải thiện mọi mặt của doanh nghiệp.
Dưới đây là năm phương châm để giúp bạn cải thiện tình hình doanh nghiệp nhỏ của bạn và từ đó cung cấp được dịch vụ chăm sóc khách hàng tốt nhất có thể.
1) Hãy xin lỗi, đừng tranh cãi
http://www.cbc.ca/laughoutloud/sorry-cover.jpg
Khi khách hàng gặp vấn đề, bạn hãy xin lỗi và giải quyết vấn đề. Bạn hãy để cho khách hàng xả được cơn giận của họ ngay cả khi bạn muốn ngắt lời để chấn chỉnh cơn tức giận của họ. Sau đó bạn hãy hoàn lại tiền cho họ, hoặc đền một vật mới hoặc bất cứ một cái gì đó để có thể chốt được vấn đề.  Tranh cãi, mặc cả về khoản tiền bồi hoàn sẽ không gây được thiện chí. Bạn hãy sửa chữa sai lầm ngay lập tức. Bạn hãy nhớ rằng một lời than phiền về công ty của bạn là một cơ hội để xoay chuyển tình hình và có được khách hàng trung thành. Rõ ràng là cũng có một số yêu cầu của khách hàng rất kỳ quặc và khó mà tuân theo nhưng khi bạn gặp trường hợp đó, bạn hãy cố gắng để đưa ra được một cách giải quyết ôn hoà và dễ làm cho khách hàng mủi lòng.

2) Phản hồi sẽ giúp bạn tập trung 

Bạn hãy đề nghị khách hàng xếp hạng dịch vụ chăm sóc khách hàng của bạn dựa trên các tiêu chí thông dụng. Điều này có thể thực hiện bằng cách gửi một bảng câu hỏi ngắn về mỗi sản phẩm đã được bán ra hoặc được gửi tới các khách hàng quan trọng. Bạn hãy xây dựng bảng câu hỏi ngắn gọn để nó không trở thành gánh nặng đối với khách hàng và cho họ biết họ có thể từ chối tham gia trả lời bảng câu hỏi. Luôn thông báo cho khách hàng biết mục đích của cuộc khảo sát là để phục vụ khách hàng tốt hơn. Nếu họ điền vào bản khảo sát và không có vấn đề gì thì dựa vào đó bạn sẽ biết rằng bạn đang làm tốt ở những dịch vụ nào . Còn nếu có vấn đề gì đó nổi lên, bạn nên tập trung vào giải quyết chúng.
3) Bạn hãy linh hoạthttp://www.ehow.vn/info/uploads/News/pic/1251441651.nv.jpg
Bạn phải linh hoạt khi phục vụ khách hàng của bạn. Điều này có nghĩa là phải phục vụ khách hàng vào mọi lúc họ cần, bạn phải gặp khách hàng vào sáng sớm ngay cả khi bạn đang muốn ngủ vùi, hay là bạn phải gặp gỡ khách hàng vào thứ Bảy trong khi bạn thường xếp đặt trước cho kỳ nghỉ cuối tuần của bạn.
 Sự linh hoạt cũng thể hiện trong việc lấy thông tin phục vụ cho khách hàng ngay cả khi những thông tin đó không nằm trong lĩnh vực chuyên môn của bạn. Ví dụ như bạn đang phục vụ cho một đám cưới và khách hàng của bạn cần thông tin về phong tục đám cưới của người Ailen. Việc này cũng dễ thực hiện ngang với việc  trả lời là "Tôi không biết gì về điều đó" bởi vì để giúp khách hàng bạn chỉ cần nhấc điện thoại gọi điện đến thư viện địa phương và sau đó fax thông tin cho khách hàng. Cố gắng làm được điều này sẽ mang lại kết quả cuối cùng là khách hàng rất hài lòng.
4) Luôn luôn nói "Vâng"http://images.yume.vn/blog/201003/24/1269408837_yes-no%202.jpg
Điều này không có nghĩa là từ bỏ ý muốn của cá nhân để phục vụ khách hàng nhưng nó có nghĩa là phải tìm được cách để giúp đỡ khách hàng khi họ có yêu cầu. Giả sử bạn kinh doanh những món hàng để làm quà tặng, bạn phải gói được quà cho một khách hàng quan trọng ngay cả khi bạn không bán giấy gói quà. Bạn phải ở lại muộn hơn để làm cho xong công việc nếu khách hàng cần nó gấp, hoặc có khi bạn phải di chuyển trong bão tuyết để đến gặp khách hàng ngay cả khi đó là một chuyến đi không dễ chịu đối với bạn. Việc bạn luôn nói "vâng" có nghĩa là cụm từ "điều đó là không thể" luôn bị cấm sử dụng trong công ty của bạn. Bạn không được sử dụng chúng. Điều này nghe có vẻ tốn kém và chẳng tiện lợi chút nào, tuy nhiên nó sẽ rẻ hơn việc bị mất một khách hàng và việc bạn phải mất thêm thời gian và tiền của để giành được một khách hàng mới.
5) Hứa ít, làm nhiềuhttp://weblink.vn/img/image/thuonghieu/T4/brand_promise.jpg
Bạn hãy làm cho khách hàng tin rằng họ luôn rất quan trọng đối với bạn bằng cách luôn cho thêm họ một  chút. Bạn hãy dự trù thêm thời gian cho thời hạn đã định và giao hàng sớm lên. Bạn hãy tính phí cao hơn thực tế một chút, rồi sau đó giảm giá lại cho khách hàng. 
Nhiều doanh nghiệp nhỏ mắc phải sai lầm là làm ngược lại với phương châm này - hứa  nhiều nhưng lại làm ít. Đây là cách tự chuốc lấy tai hoạ. Có thể bạn cũng có cơ hội kinh doanh nhưng mức độ dịch vụ chăm sóc khách hàng của bạn có thể sẽ làm cho công việc kinh doanh của bạn gặp khó khăn. Nếu 24 giờ đồng hồ là  thời gian đủ để có thể cung cấp một dịch vụ tốt ở trong ngành công nghiệp của bạn, bạn đừng hứa làm điều đó trong vòng 12 giờ chỉ bởi vì khách hàng yêu cầu như vậy.
(Theo business adge)





Sách

Phanblogs

Sách

(Viết theo yêu cấu của bà Muller-Marin đại diện của Unesco ở Việt Nam cho triển lãm Lifelong Learner. Bonus là bản dich tiếng Anh của Phan Việt, hay hơn bản gốc)
Vì lý do công việc, tôi hay phải dọn nhà. Cứ mỗi lần lại phải mất một vài tháng thì ngôi nhà mới xa lạ mới trở nên thân thuộc. Tôi để ý thấy thời điểm mà sự thân thuộc tăng đột biến là thời điểm khi tôi lấy sách từ trong thùng mang xếp lên kệ. Lúc xếp sách lên kệ là lúc quá khứ của ta ùa vào không gian của hiện tại.
Tôi có rất nhiều sách. Có sách đã đọc, có sách đã đọc vài lần, có sách đọc một nửa, còn có quyển mới chỉ đọc vài trang. Nhưng mất quyển sách nào là tôi biết ngay. Và tôi rất ghét các bạn mược sách mà quên trả, trong khi bản thân tôi thì cũng đôi khi giả quên.
Những quyển sách cũ hình thù xộc xệch vì thời gian là những quyển mà tôi cảm thấy gắn bó nhất. Quyển này từng vác sang Ấn độ vào mùa mưa, trang giấy hút ẩm đến quăn queo, không bao giờ tìm lại được hình hài ban đầu. Quyển này vì để cả tháng trên bàn làm việc ở trên tầng bốn tràn đầy ánh nắng trong ngôi nhà của bố mẹ tôi ở Hà Nội, nên bìa đã phai màu. Nhìn những quyển sách úa đi đi với thời gian cũng thân thương như xem cha mẹ, người thân, bạn bè mỗi ngày một già.
Tôi không bao giờ viết hoặc bôi xanh bôi đỏ lên trang sách. Cũng như không bao giờ làm xấu bạn bè của mình.
Cuộc sống của mỗi người bị hạn chế trong không gian và trong thời gian. Mỗi người chỉ có thể sống một cuộc sống, tại mỗi thời điểm chỉ có thể có một vị trí. Trang sách chính là cửa sổ mở sang những cuộc đời khác, những thế giới khác. Và cũng là chỗ để ánh sáng mặt trời dọi vào cuộc đời mình.
Đọc sách không chỉ để thỏa mãn cái ham muốn hiểu biết về vũ trụ và về cuộc sống, mà còn là cách để nuôi dưỡng sự ham muốn đó. Một câu hỏi được giải đáp sẽ mở ra hai câu hỏi mới cần được giải đáp và dắt tay ta đến những trang sách mới.
Không phải cái gì mình cũng tìm được trong sách, vì cuộc sống luôn rộng lớn hơn sách vở. Có thứ sách không dạy được ta, vì nếu chưa được cuộc đời cho ăn đòn thì ta chưa hiểu. Cũng có những chuyện nói ra thành lời thì dễ hơn viết.
Nhưng ngược lại ta có thể học bằng đọc sách nhiều hơn người ta tưởng. Nhiều chuyện khó nói ra bằng lời lắm. Quan hệ xã giao giữa con người với con người phải tuân theo mọt số quy định : cuộc sống hàng ngày của mỗi người đã đủ mêt mỏi, không nên hành hạ người khác về sự ray rứt của bản thân mình. Khi nói, mình muốn người khác phải nghe ngay. Khi viết, mình có thể để người ta đọc lúc nào cũng được. Chọn không đúng thời điểm, những thông điệp thiết tha nhất cũng trở nên lạc lõng. Lợi thế lớn nhất của sách là tính ổn định trong thời gian.
Sách là người bạn đặc biệt, lúc nào cũng sẵn sàng mở lòng với ta. Khi ta dọn nhà, bạn đi theo ta. Lúc nào bạn cũng đợi ta ở trên kệ sách.
———
On Books
Because of my work, I move a lot. Each time, it takes a few months before the new house becomes familiar. And I’ve noticed, time and time again, the peculiar moment when a new house suddenly transforms into being a familiar home: it’s the moment I unpack the boxes to put my books on the shelves. As the books are being lifted out of the boxes to fill the shelves, I feel my past also leaps out and fills up the present.
I have quite a lot of books. Some I’ve read once; some many times; some I’ve read a half; and some only a few pages. But I always know when a book goes missing. And it bothers me when someone borrows my books and forgets to return them, even though I must admit that I myself sometimes commit the same crime.
Among my books, the ones that I hold closest to my heart are the old books that have been bent out of shape by time. Like the one that I carried with me to India that rainy season – its pages had been soaked and curled up by moisture, such that it forever lost its original shape. Or the one I left for a month atop the wooden desk on the forth floor of my parents’ house back in Hanoi (that house is always filled with sunshine) — the color on the cover of that book has faded. Watching the books fade with time gives me the same feeling as watching my parents, relatives, and friends grow old with each day past.
I never write or highlight on the pages of my books. Just like I never want to paint my friends’ faces with dirt.
Time and space put limits on our life in the sense that each of us can only live one life and be in one place at a particular time. The pages of books, then, serve as windows that open us to lives of others and worlds elsewhere. And just like windows, they also let the sun shine through and into our own lives.
Thus, we read not only to satisfy our desire to know about the universe and life but we also read in order to nurture that desire to know. When we find the answer to a question through a book, we will naturally come up with two new questions and such questions will lead us to new books.
Of course, we can’t find all answers in books because real life is so much larger than books. There are things that books can’t teach us because there are things we can’t fully understand until we’ve crashed and burned in life. And there are also things that are better communicated through speaking than writing.
But on the other hand, we can learn from books more than we expect because there are many things we cannot express in spoken words. Human relationships hinge on certain rules: our everyday life is already tiring, thus we should not make it harder for others by imposing on them our own torments. When we speak, we are making that imposition because the act of speaking demands immediate attention of the listener at that very moment. When we write, however, we let our readers choose their own time to communicate with us. Expressed at wrong times, the most heartfelt message can become inappropriate and lost. Books, however, give us the great advantage of being always stable over time.
Books are special friends who always come to us with an open heart. When we move, these friends accompany us. Forever they are waiting for us on the shelves.





Vài dòng tâm sự về Dũng sĩ Hesman

Phanblogs 

Vài dòng tâm sự về Dũng sĩ Hesman



Hôm qua chỉ là một sự tình cờ, khi tôi thử vào Google và gõ tên Dũng sĩ Hesman thì bất ngờ nhận được rất nhiều bài viết, nhiều nhận định, nhiều kỷ niệm về quãng thời gian sáng tác bộ truyện này. Nói về kỷ niệm thì hơi nhiều, vì ròng rã suốt gần 5 năm liên tục tôi phải vẽ bộ Dũng Sĩ Hesman và Siêu Nhân Việt Nam tiếp liền sau đó. Tôi đã nhiều lần tâm sự về thời kỳ này với cách làm việc không ngơi nghỉ trong bằng ấy thời gian, điều cần nói là thời ấy chẳng có chút tư liệu gì về nó, bên đối tác liên kết với Nhà xuất bản họ chỉ đưa tôi hai băng video VOLTRON – Defender of the universe và nhờ tôi chuyển thể, phóng tác giùm, hình ảnh thì chỉ được 2 tấm nhỏ chụp ngoài bìa hộp còn nội dung thì trong băng video, hồi ấy không có DVD mà chỉ có VCD nên hình ảnh đâu có được rõ nét, TV màu thì không phải ai cũng có tiền mua được chứ nói gì là máy vi tính hay là Internet? Có nghĩa là tôi phải làm việc trong môi trường rất ít và thiếu tư liệu, thiếu thông tin như thế, đồng thời phải chịu áp lực mỗi tuần một cuốn 72 trang, phải tự viết kịch bản, vẽ bìa, tất cả tự mình thực hiện từ A đến Z, thế mà tôi vẫn miệt mài cố gắng vì nó. Giá như có được Internet và máy tính hay những công cụ như bây giờ thì mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn là ở vào thời kỳ đó, ít ra là cũng search trên net được hình nguyên mẫu Voltron để vẽ cho chính xác hơn một chút. Do vậy mà ngày nay có một số bạn trẻ bảo rằng Hesman vẽ không đúng hay nhân vật vẽ không đúng thì tôi cũng đành chịu, vì hồi ấy (1992) tôi chưa biết mặt mũi cái máy vi tính ra làm sao cả, máy tính đang ở dạng sơ khai dùng MS- Dos, Win 3.1 và Việt Nam mình chưa có Internet, chưa hề biết Internet là cái gì cả, lấy đâu ra mà tìm tư liệu?
Hai cuộn băng video chỉ rút ra được 4 tập truyện, mà cũng chỉ là phóng tác chứ không dám dùng nguyên bản sợ rằng khó duyệt, ngay cả tên VOLTRON cũng được anh Dương Thiên Vương, ngày ấy là biên tập viên, nay là Giám đốc Cty Thiên Vương và TVcomics, đổi tên trệch đi thành Hesman, tạm viết tắt từ chữ He is man, nghĩa là nhân cách hóa robot giống như người vậy. Sau 4 tập phóng tác theo băng video, vì thấy truyện khá ăn khách nên bên đối tác hỏi tôi có thể sáng tác tiếp được khoảng 20 tập nữa không? Tôi trả lời rằng Được, và thế là tiếp tục, sau đó truyện bán rất chạy, họ lại yêu cầu tôi cố gắng thêm đến tập 50 rồi 100 rồi 150 và tôi vẫn tiếp tục ăn cùng Hesman, ngủ cùng Hesman, sống cùng Hesman, phụ việc tôi chỉ là 3 đứa con hai trai một gái ròng rã trong 5 năm, các cháu lúc ấy đứa lớn nhất chỉ mới học lớp 9, đi học về buông cặp sách ra là lao vào vẽ nét và phác phụ giùm cho tôi, sau khi tôi viết kịch bản và phân cảnh, vẽ khung, tất cả đều làm bằng tay, chỉ có phần nửa trang chữ giới thiệu ở bìa lót là tôi phải dùng cái máy đánh chữ bằng điện in chữ bằng ruban đậm thay cho sắp chữ mà thôi, đến tập thứ 100 thì tôi lại thay hình đổi dạng cho Hesman để tạo thêm sức thu hút cho nhân vật. Sau đó, cứ mỗi tuần bên đối tác xuất bản họ đến nhà tôi hai lần để lấy bản thảo về duyệt đem in, mỗi lần nửa cuốn. Công việc này tiến hành liên tục và đều đều, ròng rã suốt 5 năm thế mà tôi vẫn cố cầm cự được, vì bạn đọc hồi ấy yêu mến Hesman rất nhiều, ngay cả các nhân vật tôi tự tạo ra như người vượn Gátcô, Xukhan, Huy Hùng… cũng được các bạn đọc yêu mến và theo dõi thường kỳ, tôi thấy dường như mãi đến ngày nay, họ vẫn dành tình cảm cho bộ truyện này, mặc dù ngày nay truyện tranh Nhật tràn vào như thác lũ, nhưng hầu hết những ai mê Hesman ngày ấy nay đã là những người trưởng thành, họ vẫn dành những kỷ niệm đáng nhớ về nó, cho dù nó vẽ không đẹp lắm, mà với thời gian thực hiện gấp rút như thế, tốc độ vẽ như thế, công cụ vẽ như thế thì làm sao cho đẹp được? Miễn sao bạn đọc vẫn dành tình cảm cho bộ truyện là an ủi tôi lắm rồi.
Hesman đã tạo nên một tiếng vang tuy không lớn lao gì nhưng cũng vẫn để lại một chút dấu ấn nào đó trong lòng bạn đọc thời ấy, chứng tỏ truyện tranh Việt cũng vẫn có chỗ đứng, mặc dù thời ấy, bộ truyện Nhật Doreamon đang nổi đình nổi đám và tôi vô tình ở trong một cuộc chiến không cân sức về xuất bản, nói cuộc chiến cho vui thế thôi, chứ chỉ là sự cố gắng và sáng tạo song song với nhau mà thôi. Tôi nói không cân sức là vì làm sao chạy kịp Doreamon được? Doreamon là truyện Nhật, chỉ biên dịch và đem in, còn tôi thì phải thực hiện và vẽ từ A đến Z, kể cả kịch bản, tôi không kiệt sức ngã quỵ là may lắm đó, nhưng rõ ràng là sau này tôi phải đưa tay đầu hàng trước anh bạn mèo máy dễ thương này vì hết hơi. Mãi về sau, chú Nguyễn Thắng Vu (chú mới qua đời hôm 14/10/2010) là Giám đốc Nhà xuất bản Kim Đồng thời ấy cũng rất quan tâm đến tác giả Hesman, chú nhờ nhân viên thế nào cũng tìm ra tôi để gặp chú một lần cho biết, vì sao mà chỉ một mình tôi mà dám thực hiện hàng loạt truyện như vậy được, sau đó anh Bùi Đức Liễn là biên tập viên NXB Kim Đồng tìm ra tôi, và nhân dịp chú vào công tác tại TPHCM, chú có mời tôi lên gặp để trao đổi về tình hình truyện tranh, và sau đó xuất bản cho tôi mấy tập TKKG Tứ Quái Sài Gòn như là một kỷ niệm rất đáng nhớ về chú.
Nói đến bộ truyện Hesman này thì quả thật có rất nhiều điều cần phải nhắc đến, nhưng nay tôi chỉ tâm sự đôi dòng kỷ niệm một thời với bộ truyện tranh đáng nhớ này mà thôi. Và tôi cũng cảm thấy rất vui khi nhận được sự quan tâm ưu ái của các bạn trẻ ngày nay trên các diễn đàn về truyện tranh, các diễn đàn sinh viên, họ đã thay tôi upload lên mạng trọn bộ 159 tập Hesman như là một món quà tinh thần đáng nhớ cho cuộc đời cầm bút vẽ của mình. Tôi chân thành cám ơn các bạn, giá như ngày nay tôi còn trẻ, có được các công cụ và tư liệu phong phú trên Internet như hiện tại thì chắc là tôi có thể làm được nhiều hơn thế, cho dù bây giờ tôi vẫn làm, vẫn đang vẽ với những đề tài khác như Thằng Bờm, Tư Ếch Phiêu Lưu Ký, Vó Ngựa Sài Gòn, Cuộc Đời Chúa Cứu Thế, Lục Vân Tiên… nhưng đối với Hesman, nó vẫn là bộ truyện đáng nhớ nhất trong đời.
Dưới đây là danh sách và địa chỉ download bộ truyện tranh Dũng sĩ Hesman mà các bạn trẻ đã scan lại từng trang và upload lên mạng thay cho tôi để mọi người có thể tải về xem:
HungLan Design






Có một ngày

Phanblogs

Bài thơ có tên “Có một ngày” được ông Trần Đăng Tuấn sáng tác ngay trong đêm 3/11, cách thời điểm thủ tướng ký quyết định để ông thôi giữ chức Phó TGĐ thường trực VTV vài giờ đồng hồ và được nhà thơ Phan Trọng Tạo giới thiệu.

Bài thơ vẻn vẹn chỉ có 15 câu nhưng chứa chất những nỗi lòng nặng trĩu, như một tiếng thở dài đầy não nuột, trong đó có những câu như “Tôi rẽ vào ngả đời/Gập ghềnh hơn mà thanh thản hơn!/ Tết này có ai cho rượu ngoại?/ Càng thấu tình men lá rượu ngô trong/ Xuân này thôi họp hành lễ lạt…/Cha loay hoay tìm việc để nuôi con…

http://danlambao.files.wordpress.com/2010/09/tran-dang-tuan.jpg

CÓ MỘT NGÀY

Có một ngày
Rời chậu cảnh, cây ra ngoài đất bãi
Đất cằn hơn và bãi rộng hơn
Có một ngày
Không vui sướng cũng không ngần ngại
Tôi rẽ vào ngả đời
Gập ghềnh hơn mà thanh thản hơn!
Tết này có ai cho rượu ngoại?
Càng thấu tình men lá rượu ngô trong
Xuân này thôi họp hành lễ lạt
Cha dắt con đi chơi non biếc nắng hồng
Giờ như bao chú cô bác khác
Cha loay hoay tìm việc để nuôi con
Chút gian khó CỦA đời cha sẽ nếm
Để gần hơn bao thân phận mất còn!

Trần Đăng Tuấn
Hà Nội, 3-11-2010



Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế

Phanblogs


0:07 – Con này mày đứng dậy tao chụp kiểu ảnh, nhanh, mày ấy, đứng dậy.

0:16 – Đứng dậy, đứng ngữa mặt lên, ngữa mặt lên, dơ hai tay ra, dạng hai tay ra hai bên, nhanh lên, ơ con này dang hai tay ra.

0:38 - Nhìn vào đây, quay mặt vào đây, dang hai tay ra, đm, quay mặt vào đây, chả nhìn thấy cái đ… gì .

1:03 – Đứng dậy, đứng sát vào tường, mày ấy, đứng dậy đứng sát vào tường kia kìa.

1:32 – Mày khóc cái gì?

Được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua và công bố theo Quyết nghị 217 A (III) ở Paris vào ngày 10 tháng 12 năm 1948.

Lời mở đầu

Xét rằng: Sự thừa nhận rằng tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại đều có nhân phẩm bẩm sinh cũng như những quyền bình đẳng và không thể tước đoạt được là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới.

Xét rằng: Hành vi xem thường và hành vi vi phạm nhân quyền đã dẫn đến những hành động man rợ gây phẫn nộ cho lương tâm nhân loại, và việc tiến đến một thế giới trong đó tất cả mọi người được hưởng tự do ngôn luận, tự do về thế giới quan, không còn phải sống trong nỗi lo sợ và sự khốn cùng phải được tuyên xưng như là ước vọng cao nhất của con người.

Xét rằng: Điều cốt yếu là nhân quyền cần phải được bảo vệ bằng nguyên tắc pháp trị, để con người không bị dồn vào thế cùng đến nỗi phải nổi dậy để chống lại bạo quyền và áp bức.

Xét rằng: Điều cốt yếu là cần phải khuyến khích sự phát triển của mối quan hệ thân thiện giữa các quốc gia.

Xét rằng: Trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, các dân tộc trong Liên Hiệp Quốc đã lại một lần nữa xác nhận niềm tin vào những nhân quyền căn bản, vào nhân phẩm và giá trị con người, vào những quyền bình đẳng nam nữ và cùng quyết tâm thúc đẩy tiến bộ xã hội và nâng cao mức sống trong môi trường tự do hơn.

Xét rằng: Các quốc gia thành viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc để khuyến khích tinh thần tôn trọng và bảo vệ nhân quyền và các tự do căn bản trên phạm vi toàn cầu.

Xét rằng: Sự hiểu biết chung về các nhân quyền và tự do này là điều tối quan trọng để có thể thực hiện đầy đủ sự cam kết trên.

Do đó, Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc công bố Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế này như là chuẩn mực chung cần đạt tới của mọi dân tộc và quốc gia, nhằm giúp cho mọi cá nhân và bộ phận của xã hội luôn luôn theo sát tinh thần của Bản Tuyên Ngôn, dùng sự giảng dạy và giáo dục để cũng cố sự tôn trọng các quyền và tự do này, mặt khác, bằng những phương thức luôn được cải tiến trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế, để bảo đảm sự thừa nhận và bảo vệ những quyền và tự do này trên thực tế và trên toàn thế giới, nghĩa là, cả trong các dân tộc của những nước thành viên lẫn trong những dân tộc sống trên phần đất thuộc chủ quyền của các quốc gia thành viên.

Ðiều 1 [Nhân phẩm; Tự do và Bình đẳng; Tình anh em]:

Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và nhân quyền. Mọi người đều được phú bẩm về lý trí và lương tâm và vì thế phải đối xử với nhau trong tinh thần anh em.

Ðiều 2 [Cấm phân biệt đối xử]:

(1) Tất cả mọi người đều được hưởng tất cả những quyền và tự do được liệt kê trong Tuyên Ngôn này mà không phải chịu bất cứ một sự phân biệt nào, chẳng hạn như về chủng tộc, màu da, phái tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay quan điểm nào khác, quốc tịch hay nguồn gốc xã hội, tài sản, dòng dõi hay địa vị gì khác.

(2) Cũng không được có sự phân biệt đối xử đối với con người dựa trên vị thế về chính trị, pháp lý hay quốc tế của quốc gia hoặc của lãnh thổ mà họ đó thuộc về đó, cho dù quốc gia hay lãnh thổ này đã được độc lập hay còn bị đặt dưới sự bảo hộ, không được tự quản hay ở trong tình trạng bị hạn chế về chủ quyền.

Ðiều 3 [Quyền được sống, có tự do và an toàn]:

Tất cả mọi người đều có quyền được sống, quyền có tự do và an toàn cá nhân.

Ðiều 4 [Cấm giữ nô lệ, tôi tớ và buôn bán nô lệ]:

Không ai có thể bị bắt làm nô lệ hay tôi tớ. Mọi hình thức giữ và buôn bán nô lệ đều bị nghiêm cấm.

Ðiều 5 [Cấm tra tấn]:

Không ai có thể bị tra tấn hoặc bị đối xử hay bị bắt chịu hình phạt một cách dã man, vô nhân đạo hay nhục nhã.

Ðiều 6 [Quyền được công nhận tư cách pháp nhân]:

Mỗi người có quyền đòi hỏi được công nhận tư cách pháp nhân ở bất cứ nơi nào.

Ðiều 7 [Bình đẳng trước pháp luật; Được pháp luật bảo vệ như nhau; Bảo vệ trước sự phân biệt đối sử]:

Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và phải được pháp luật bảo vệ như nhau mà không phải chịu bất cứ sự phân biệt nào. Tất cả mọi người đều có quyền đòi hỏi được pháp luật bảo vệ như nhau để chống lại mọi hành vi phân biệt đối xử đi ngược với Tuyên ngôn này cũng như để chống lại mọi hành vi xúi giục dẫn đến một sự phân biệt đối xử như vậy.

Ðiều 8 [Được toà án bảo vệ các quyền căn bản]:

Bất cứ ai cũng có quyền yêu cầu các toà án quốc gia có thẩm quyền bảo vệ một cách hữu hiệu trước những hành vi vi phạm các quyền căn bản của mình đã được hiến pháp hoặc luật pháp thừa nhận.

Ðiều 9 [Không được bắt, giam và trục xuất độc đoán]:

Không một ai có thể bị bắt giữ, giam cầm hay trục xuất khỏi nước một cách độc đoán.

Ðiều 10 [Quyền được hưởng sự xét xử công bằng]:

Mỗi người đều có quyền như nhau trong việc đòi hỏi một toà tòa án độc lập và vô tư mở phiên xử công khai và công bằng về quyền, trách nhiệm của họ cũng như về bất cứ sự buộc tội hình sự nào đối với họ.

Ðiều 11 [Quyền được xem là vô tội và cấm hồi tố]:

(1) Mỗi người, khi bị cáo buộc về hành vi phạm tội hình sự, có quyền đòi hỏi được xem là vô tội cho đến khi họ bị một toà án mở phiên xử công khai, trong đó họ có đủ mọi điều kiện để biện hộ, kết án theo đúng luật pháp.

(2) Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm hay không làm, nếu vào thời điểm xảy ra những điều này luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế đã không xem những điều ấy là tội hình sự. Không ai có thể bị tuyên một án phạt nặng hơn hình phạt đã được luật pháp quy định vào thời gian phạm pháp.

Ðiều 12 [Quyền riêng tư; Bảo vệ danh dự]:

Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc đoán vào đời sống riêng, gia đình, nhà ở, hay thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hay tiếng tăm của mình. Mọi người đều có quyền được luật pháp bảo vệ trước những xâm phạm hoặc xúc phạm như vậy.

Ðiều 13 [Quyền tự do đi lại và cư trú; Quyền được rời khỏi bất cứ nước nào và trở về chính quốc gia của mình]:

(1) Tất cả mọi người có quyền tự do đi lại và cư trú trong phạm vi biên giới của mỗi quốc gia.

(2) Tất cả mọi người đều có quyền rời khỏi bất cứ nước nào, kể cả nước mình, và quyền trở về nước mình.

Ðiều 14 [Quyền tỵ nạn]:

(1) Mỗi người có quyền đi lánh nạn và được cho lánh nạn ở những quốc gia khác khi bị truy bức.

(2) Quyền này không được xét đến, nếu đương sự thật sự bị truy nã vì các hành vi ph ạm tội không mang tính chính tr ị, hay do những hành vi trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.

Ðiều 15 [Quyền được có quốc tịch]:

(1) Tất cả mọi người đều có quyền có một quốc tịch.

(2) Không một ai có thể bị tước bỏ quốc tịch, hay bị từ chối quyền được thay đổi quốc tịch một cách độc đoán.

Ðiều 16 [Quyền kết hôn và lập gia đình; Bảo vệ gia đình]:

(1) Đàn ông và đàn bà ở tuổi trưởng thành có quyền kết hôn và lập gia đình, mà không phải chịu hạn chế vì lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. H ọ có quyền bình đẳng khi kết hôn, trong hôn nhân và lúc chầm dứt hôn nhân.

(2) Việc kết hôn chỉ có thể tiến hành khi có sự đồng ý hoàn toàn và tự do của hai người muốn kết hôn.

(3) Gia đình phải được xem là một đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội, và cần được xã hội và nhà nước bảo vệ.

Ðiều 17 [Quyền tư hữu]:

(1) Tất cả mọi người đều có quyền sở hữu tài sản của riêng mình hay chung với những người khác.

(2) Không ai có thể bị tước đoạt tài sản của mình một cách độc đoán.

Ðiều 18 [Quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo]:

Tất cả mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay thế giới quan của mình cũng như quyền tự do biểu thị tôn giáo hay thế giới quan của mình bằng cách giảng dạy, thực hành, thờ phụng và tuân thủ giáo điều cho riêng cá nhân mình hay chung với những người khác, ở nơi công cộng hay chốn riêng tư

Ðiều 19 [Quyền tự do quan điểm và tự do thông tin]:

Tất cả mọi người đều có quyền tự do có quan điểm và quyền tự do bày tỏ quan điểm. Quyền này bao gồm tự do giữ và bày tỏ quan điểm mà không bị ai quấy rầy và tự do tìm kiếm, thu nhận và quảng bá thông tin và ý kiến qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới quốc gia.

Ðiều 20 [Quyền tự do hội họp và lập hội]:

(1) Tất cả mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội một cách ôn hòa.

(2) Không một ai có thể bị bắt buộc phải gia nhập vào một hội đoàn.

Ðiều 21 [Quyền tham gia điều hành đất nước dân chủ; Quyền tiếp nhận bình đẳng chức vụ công cộng; Tự do bầu cử]:

(1) Tất cả mọi người đều có quyền tham gia vào việc điều hành đất nước của mình, một cách trực tiếp hay qua các đại biểu được tuyển chọn một cách tự do.

(2) Tất cả mọi người đều có quyền nhận làm những chức vụ công cộng trong quốc gia một cách bình đẳng.

(3) Ý muốn của người dân phải là nền tảng của quyền lực chính quyền. Ý muốn này phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử thực sự và định kỳ, theo nguyên tắc đầu phiếu phổ thông và bình đẳng, bằng phiếu kín, hay các thể thức bầu cử tự do tương đương như vậy.

Ðiều 22 [Quyền an sinh xã hội]:

Với tư cách là thành viên của xã hội, mỗi người đều có quyền được hưởng an sinh xã hội cũng như được hưởng các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa là những điều không thể thiếu được cho nhân phẩm và việc tự do phát huy nhân cách của mình; Những quyền này sẽ được thực hiện bằng những nỗ lực quốc gia và hợp tác quốc tế cũng như tuỳ theo cách thức tổ chức và tài nguyên của mỗi quốc gia.

Ðiều 23 [Quyền làm việc, được trả lương như nhau cho công việc giống nhau, được trả lương tương xứng; Quyền tự do thành lập nghiệp đoàn]:

(1) Tất cả mọi người có quyền có việc làm, quyền tự do chọn việc làm, quyền được hưởng các điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, và quyền được bảo vệ chống thất nghiệp.

(2) Tất cả mọi người đều có quyền đòi hỏi được trả lương như nhau cho công việc giống nhau mà không phải chịu bất cứ sự phân biệt đối xử nào.

(3) Tất cả mọi người đi làm đều có quyền được trả thù lao một cách công bằng và tương xứng để có thể bảo đảm một cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm cho bản thân và gia đình mình; Nếu cần, tiền lương này sẽ được bù đắp thêm bằng các phương tiện an sinh xã hội khác.

(4) Tất cả mọi người đều có quyền thành lập và tham gia vào các nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình.

Ðiều 24 [Quyền được nghỉ ngơi và có thời gian rảnh rỗi]:

Tất cả mọi người đều có quyền được hưởng sự nghỉ ngơi và có thời gian rảnh rỗi, trong đó có việc hạn chế hợp lý số giờ làm việc cũng như có các ngày nghỉ định kỳ có trả lương.

Ðiều 25 [Quyền có mức sống khả quan; Quyền được hưởng an sinh xã hội trong tình trạng khốn cùng; Quyền của các bà mẹ và trẻ em]:

(1) Tất cả mọi người có quyền được hưởng một mức sống khả quan đủ bảo đảm về sức khỏe và sự an vui cho bản thân và gia đình, trong đó có cả các vấn đề liên quan thực phẩm, quần áo, chỗ ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết. Tất cả mọi người có quyền được hưởng an sinh xã hội khi bị lâm vào tình trạng thất nghiệp, đau ốm, tàn tật, goá bụa, tuổi già hay mất phư ơng tiện mưu sinh do những hoàn cảnh ngoài ý muốn.

(2) Các bà mẹ và trẻ em có quyền đòi hỏi được chăm sóc và trợ giúp đặc biệt. Tất cả mọi trẻ em, dù là con chính thức hay ngoại hôn, đều được xã hội bảo vệ một cách bình đẳng.

Ðiều 26 [Quyền giáo dục; Quyền cha mẹ]:

(1) Tất cả mọi người đều có quyền được hưởng sự giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí, ít nhất là ở bậc tiểu học. Giáo dục cấp tiểu học có tính cưỡng bách. Giáo dục kỹ thuật và giáo dục chuyên nghiệp phải được mở rộng cho mọi người và giáo dục cao cấp phải được mở rộng bình đẳng cho mọi người dựa trên tiêu chuẩn tài năng.

(2) Giáo dục phải được điều hướng làm sao để có thể phát triển đầy đủ nhân cách, và để tăng cường sự tôn trọng các nhân quyền và các tự do căn bản. Giáo dục phải đề cao sự thông cảm, sự bao dung, và sự thân thiện giữa mọi quốc gia, mọi nhóm chủng tộc hoặc tôn giáo, và hỗ trợ cho các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc.

(3) Cha mẹ có quyền ưu tiên chọn lựa phương cách giáo dục con cái mình.

Ðiều 27 [Quyền tự do tham gia sinh hoạt văn hoá; Tác quyền]:

(1) Tất cả mọi người có quyền được tự do tham gia vào sinh ho ạt văn hóa của cộng đồng, được thưởng thức nghệ thuật và được hưởng các tiến bộ cũng như lợi ích của khoa học.

(2) Tất cả mọi người có quyền nhận được sự bảo vệ về tinh thần cũng như vật chất đối với tác quyền trên các tác phẩm khoa học, văn chương hay nghệ thuật.

Ðiều 28 [Trật tự xã hội và quốc tế]:

Tất cả mọi người đều có quyền được hưởng một trật tự xã hội và trật tự quốc tế, trong đó các quyền và các tự do được nêu trong Tuyên Ngôn này được thực hiện đầy đủ.

Ðiều 29 [Bổn phận cá nhân; Giới hạn của các quyền]:

(1) Tất cả mọi người đều có những bổn phận đối với cái cộng đồng mà chỉ trong đó họ mới có thể phát triển một cách toàn vẹn và tự do nhân cách của mình.

(2) Khi hành x ử những quyền và tự do, tất cả mọi người chỉ phải chị u những giới hạn nhất định do luật pháp đặt ra để cho những quyền và tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, cũng như để cho những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng, và sự an lạc chung trong một xã hội dân chủ được thỏa mãn.

(3) Trong bất cứ trường hợp nào, việc thực hiện những quyền và tự do này cũng không đi ngược với những mục đích và tôn chỉ của Liên Hiệp Quốc.

Ðiều 30 [Cấm lạm quyền]:

Không một điều nào trong Tuyên Ngôn này có thể được diễn giải để cho phép một quốc gia, một nhóm hay một cá nhân nào được quyền có những việc làm hay hành động nhằm tiêu hủy bất cứ quyền và tự do nào được liệt kê trong Tuyên Ngôn này.



Ba người thầy vĩ đại

Phanblogs Khi Hasan, một nhà hiền triết Hồi giáo sắp qua đời, có người hỏi ông: "Thưa Hasan, ai là thầy của ngài?"

Ba người thầy vĩ đại
Hasan đáp: "Những người thầy của ta nhiều vô kể. Nếu điểm lại tên tuổi của các vị ấy hẳn sẽ mất hàng tháng, hàng năm, và như thế lại quá trễ vì thời gian của ta còn rất ít. Nhưng ta có thể kể về ba người thầy sau của ta.

Người đầu tiên là một tên trộm. Có một lần ta đi lạc trong sa mạc, khi ta tìm đến được một khu làng thì trời đã rất khuya, mọi nhà đều đi ngủ cả. Nhưng cuối cùng ta cũng tìm thấy một người, ông ta đang khoét vách một căn nhà trong làng. Ta hỏi ông ta xem có thể tá túc ở đâu, ông ta trả lời: "Khuya khoắt thế này thật khó tìm chỗ nghỉ chân, ông có thể đến ở chỗ tôi nếu ông không ngại ở chung với một tên trộm."

Người đàn ông ấy thật tuyệt vời. Ta đã nán lại đấy hẳn một tháng! Cứ mỗi đêm ông ta lại bảo: "Tôi đi làm đây. Ông ở nhà và cầu nguyện cho tôi nhé!" Mỗi khi ông ta trở về ta đều hỏi: "Có trộm được gì không?" và ông ta đều đáp: "Hôm nay thì chưa, nhưng ngày mai tôi sẽ cố, có thể lắm chứ". Ta chưa bao giờ thấy ông ta trong tình trạng tuyệt vọng, ông ta luôn hạnh phúc.

Có lần ta đã suy ngẫm và suy ngẫm trong nhiều năm ròng để rồi không ngộ ra được một chân lý nào. Ta đã rơi vào tình trạng tuyệt vọng, tuyệt vọng đến nỗi ta nghĩ mình phải chấm dứt tất cả những điều vô nghĩa này. Ngay sau đấy ta chợt nhớ đến tên trộm, kẻ hằng đêm vẫn quả quyết: "Ngày mai tôi sẽ làm được, có thể lắm chứ!"

Người thầy thứ hai là một con chó. Khi ta ra bờ sông uống nước, có một con chó xuất hiện. Nó cũng khát nước. Nhưng khi nhìn xuống dòng sông, nó thấy cái bóng của mình nhưng lại tưởng đó là một con chó khác. Hoảng sợ, nó tru lên và bỏ chạy. Nhưng rồi khát quá nó bèn quay trở lại. Cuối cùng, mặc nỗi sợ hãi trong lòng, nó nhảy xuống sông và cái bóng biến mất. Ta hiểu đây là một thông điệp đã được gửi đến cho ta: con người phải biết chiến thắng nỗi sợ trong lòng bằng hành động.

Người thầy cuối cùng là một đứa bé. Ta đến một thành phố nọ và thấy một đứa bé trên tay cầm một cây nến dã thắp sáng để đặt trong đền thờ. Ta hỏi đứa bé: "Con tự thắp cây nến này phải không?" Đứa bé đáp: "Thưa phải." Đoạn ta hỏi: "Lúc nãy nến chưa thắp sáng, nhưng chỉ một thoáng sau đã cháy sáng. Vậy con có biết ánh sáng từ đâu đến không?"

Đứa bé cười to, thổi phụt ngọn nến và nói: "Ngài thấy ánh sáng đã biến mất, vậy ngài bảo ánh sáng đã đi đâu?"

Cái tôi ngạo nghễ của ta hoàn toàn sụp đổ, pho kiến thức kim cổ của ta cũng sụp đổ theo. Lúc ấy ta nghiệm ra sự dốt nát của bản thân. Và từ đó ta vất đi tất cả những tự hào về kiến thức của mình.

Đúng là có thể nói ta không có một ai là thầy, nhưng điều này không có nghĩa ta không phải là một học trò
Ta xem vạn vật là thầy. Tinh thần học hỏi của ta luôn rộng mở hơn tất cả các người. Ta học hỏi từ tất cả mọi vật, từ cành cây ngọn cỏ đến đám mây trên trời kia. Ta không có một người thầy vì ta có hàng triệu triệu người thầy mà ta đã học được mỗi khi có thể. Điều thiết yếu trong cuộc sống là luôn làm một học trò. Điều này có nghĩa là gì? Nghĩa là có khả năng học hỏi, luôn sẵn sàng học để biết chấp nhận ý nghĩa của vạn vật. 




Hịch tướng sĩ

Phanblogs Hịch tướng sĩ Ta thường nghe: Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Ðế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước. Kính Ðức một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thái Sung; Cảo Khanh một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào chẳng có? Ví thử mấy người đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình thì cũng đến chết hoài ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách cùng trời đất muôn đời bất hủ được?


Các ngươi vốn dòng võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi việc đời trước hẵng tạm không bàn. Nay ta lấy chuyện Tống, Nguyên mà nói: Vương Công Kiên là người thế nào? Nguyễn Văn Lập, tỳ tướng của ông lại là người thế nào? Vậy mà đem thành Ðiếu Ngư nhỏ tày cái đấu đương đầu với quân Mông Kha đường đường trăm vạn, khiến cho sinh linh nhà Tống đến nay còn đội ơn sâu! Cốt Ðãi Ngột Lang là người thế nào? Xích Tu Tư tỳ tướng của ông lại là người thế nào? Vậy mà xông vào chốn lam chướng xa xôi muôn dặm đánh quỵ quân Nam Chiếu trong khoảng vài tuần, khiến cho quân trưởng người Thát đến nay còn lưu tiếng tốt!

Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ. Ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng; khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau.

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.

Các ngươi ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền, không có mặc thì ta cho áo; không có ăn thì ta cho cơm. Quan thấp thì ta thăng tước; lộc ít thì ta cấp lương. Ði thủy thì ta cho thuyền; đi bộ thì ta cho ngựa. Lâm trận mạc thì cùng nhau sống chết; được nhàn hạ thì cùng nhau vui cười. So với Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ tá, nào có kém gì?

Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết căm. Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm. Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai. Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi thỏa thích, phỏng có được chăng?

Nay ta bảo thật các ngươi: nên lấy việc đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ làm nguy; nên lấy điều kiềng canh nóng mà thổi rau nguội làm sợ. Phải huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho ai nấy đều giỏi như Bàng Mông, mọi người đều tài như Hậu Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhaị Như thế chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền mà bổng lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng; chẳng những gia thuộc ta được ấm êm giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng trăm tuổi sum vầy; chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng; chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí, mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm; chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi, phỏng có được không?

Nay ta chọn lọc binh pháp các nhà hợp thành một tuyển, gọi là Binh Thư Yếu Lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là thần tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là nghịch thù.

Vì sao vậy? Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung, mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây, sau khi dẹp yên nghịch tặc, để thẹn muôn đời, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa?

Cho nên ta viết bài hịch này để các ngươi hiểu rõ bụng ta."

Hịch tướng sĩ
Hịch tướng sĩ

Chú thích



· Kỷ Tín: tướng của Hán Cao Tổ Lưu Bang. Khi Lưu Bang bị Hạng Vũ vây ở Huỳnh Dương, Kỷ Tín giả làm Hán Cao Tổ ra hàng, bị Hạng Vũ thiêu chết. Hán Cao Tổ nhờ thế mới thoát được.

· Do Vu: tướng của Sở Chiêu Vương thời Xuân Thu. Theo Tả Truyện, Sở Chiêu Vương bị nước Ngô đánh phải lánh sang phương Ðông, một đêm bị cướp vây đánh. Do Vu đã chìa lưng ra đỡ giáo cho vua mình.

· Dự Nhượng: gia thần của Trí Bá thời Chiến Quốc. Trí Bá bị Triệu Tương Tử giết, Dự Nhượng bèn nuốt than cho khác giọng đi, giả làm hành khất, mưu giết Tương Tử để báo thù cho chủ.

· Thân Khoái: quan giữ ao cá của Tề Trang Công thời Xuân Thu. Trang Công bị Thôi Trữ giết, Thân Khoái bèn chết theo chủ.

· Kính Ðức: tức Uất Trì Cung đời Ðường. Khi Ðường Thái Tông (bấy giờ còn là Tần Vương Lý Thế Dân) bị Vương Thế Sung vây, ông đã lấy mình che chở, hộ vệ cho Thái Tông chạy thoát.

· Cảo Khanh: họ Nhan, một bề tôi trung của nhà Ðường. Khi An Lộc Sơn nổi loạn, đánh đuổi Ðường Huyền Tông và Dương Quý Phi, ông đã cả gan chưởi mắng An Lộc Sơn và bị cắt lưỡi.

· Vương Công Kiên: tướng tài nhà Tống, giữ Hợp Châu, lãnh đạo quân dân Tống cầm cự với quân Mông Cổ do Mông Kha chỉ huy ở núi Ðiếu Ngư suốt bốn tháng trời. Mông Kha cuối cùng bị loạn tên chết, quân Mông Cổ đành phải rút lui.

· Ðiếu Ngư: tên ngọn núi hiểm trở ở Tứ Xuyên, ba mặt nhìn xuống sông. Ðời Tống, Dư Giới đắp thành ở đó.

· Mông Kha: tức Mongka, anh của Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt, làm Ðại Hãn Mông Cổ từ năm 1251. Mông Kha trực tiếp chỉ huy cuộc viễn chinh sang Trung Quốc và các nước phía Ðông. Ông bị tử trận năm 1259 dưới chân thành Ðiếu Ngư trong cuộc vây hãm đội quân Tống do Vương Công Kiên chỉ huy.

· Cốt Ðãi Ngột Lang: tức Uriyangqadai, tướng giỏi của Mông Cổ, con của viên tướng nổi tiếng Subutai. Cốt Ðãi Ngột Lang nhận lệnh của Mông Kha, cùng Hốt Tất Liệt đánh chiếm nước Nam Chiếu. Cốt Ðãi Ngột Lang cũng là viên tướng chỉ huy đạo quân Mông Cổ xâm lược Ðại Việt lần thứ nhất (1258).

· Xích Tu Tư: chép Xích theo Hoàng Việt Văn Tuyển. Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư chép Cân. Hai chữ gần giống nhau, không biết quyển nào chép nhầm. Hiện nay, chưa có tài liệu nào nói gì về viên tướng này, và việc khôi phục lại tên Mông Cổ từ Hán tự cũng không phải là chuyện đơn giản.

· Nam Chiếu: nước nhỏ nằm ở khoảng giữa tỉnh Tứ Xuyên và Vân Nam ngày nay; thủ đô là Ðại Lý, thuộc Vân Nam.

· Hốt Tất Liệt: tức Qubilai, em ruột và là tướng của Mông Kha. Sau khi Mông Kha tử trận ở Ðiếu Ngư, Hốt Tất Liệt tự xưng làm Ðại Hãn ở Khai Bình, khiến xảy ra cuộc nội chiến tranh giành ngôi báu với em ruột là Ariq-Buka. Năm 1264, Ariq-Buka đầu hàng, Hốt Tất Liệt bèn dời đô về Yên Kinh (tức Bắc Kinh ngày nay), xưng Nguyên Thế Tổ, lập nên nhà Nguyên.

· Vân Nam Vương: tức Hugaci hay Thoát Hoan, con ruột Hốt Tất Liệt, được phong làm Vân Nam Vương năm 1267 với nhiệm vụ khống chế các dân tộc thiểu số vùng này cũng như mở rộng biên cương nhà Nguyên về phía Nam. Thoát Hoan là người chỉ huy quân Nguyên xâm lược Ðại Việt lần thứ hai năm 1285 và lần thứ ba năm 1287-1288.
· Nghìn thây ta bọc trong da ngựa: điển tích lấy từ câu nói của viên tướng khét tiếng Mã Viện đời Hán chép trong Hậu Hán Thư (Ðại trượng phu dương tử ư cương trường, dĩ mã cách khỏa thi nhĩ: Bậc đại trượng phu nên chết ở giữa chiến trường, lấy da ngựa mà bọc thây.)

· Thái thường: tên loại nhạc triều đình dùng trong những buổi tế lễ quan trọng ở tông miếu. Bấy giờ là thời kỳ ngoại giao căng thẳng giữa ta và quân Nguyên, trong những buổi yến tiệc tiếp sứ Nguyên, triều đình nhà Trần nhiều khi phải buộc dùng đến nhạc thái thường để mua vui cho sứ giả. Trần Quốc Tuấn xem đó là một điều nhục nhã.

· Thái ấp: phần đất vua Trần phong cho các vương hầu.

· Ðặt mồi lửa dưới đống củi nỏ: từ câu văn trong Hán Thư (phù bão hỏa, thố chi tích tân chi hạ nhi tẩm kỳ thượng, hỏa vị cập nhiên nhân vị chi an. Ôm mồi lửa, đặt dưới đống củi rồi nằm lên trên, lửa chưa kịp cháy vẫn cho là yên.)

· Kiềng canh nóng mà thổi rau nguội: xuất xứ từ một câu văn trong Sở Từ trừng ư canh nhi xuy tê hề. Người bị bỏng vì canh nóng, trong lòng đã e sợ sẵn, dù gặp rau nguội đi nữa, cũng vẫn thổi như thường.

· Bàng Mông: danh tướng đời nhà Hạ, có tài bắn cung trăm phát trăm trúng.

· Hậu Nghệ: một nhân vật bắn cung giỏi nữa trong thần thoại Trung Quốc.

· Cảo Nhai: nơi trú ngụ của các vua chư hầu khi vào chầu vua Hán ở Trường An.

· Mãi mãi vững bền: nguyên văn chữ Hán là vĩnh vi thanh chiên. Sách Thế Thuyết chép chuyện Vương Tử Kính đêm nằm ngủ thấy bọn trộm vào nhà sạch sành sanh vét mọi vật. Ông từ tốn bảo chúng rằng: cái nệm xanh (thanh chiên) này là đồ cũ của nhà ta, các ngươi làm ơn để lại. Tác giả dùng điển tích này để chỉ những của cải được lưu truyền từ đời này sang đời khác.

· Binh Thư Yếu Lược: tức Binh Gia Diệu Lý Yếu Lược, nay đã thất truyền. Tác phẩm với đầu đề tương tự được lưu truyền hiện nay không phải là văn bản thực thụ, trong đó có vài đoạn chép các trận đánh thời Lê Nguyễn sau này.

· Dẹp yên nghịch tặc: nguyên văn chữ Hán là bình lỗ chi hậụ Các dịch giả Dương Quảng Hàm, Trần Trọng Kim đoán Bình Lỗ là tên đất ở đâu đó vùng Phù Lỗ thuộc tỉnh Vĩnh Phú ngày nay. Ở đây, chúng tôi theo Ngô Tất Tố và Phan Kế Bính dịch thoát là bình định nghịch tặc nói chung.