Tìm kiếm blog này

Nhẫn


Có khi nhẫn để yêu thương Có khi nhẫn để tìm đường lo toan

Có khi nhẫn để yêu thương

Có khi nhẫn để tìm đường lo toan

Có khi nhẫn để vẹn toàn

Có khi nhẫn để tránh tàn sát nhau

Nhẫn một chút sóng yên gió lặng

Lùi một bước biển rộng trời cao



Có khi nhẫn để xoay vần

Thiên thời, địa lợi, nhân tâm hiệp hòa



Có khi nhẫn để vị tha

Có khi nhẫn để thêm ta, bớt thù

Có khi nhẫn: tỉnh giả ngu

Hơn hơn, thiệt thiệt đường tu khó lường


Có khi nhẫn để vô thường

Không không, sắc sắc đoạn trường trần ai


Có khi nhẫn để lắng tai

Khôn khôn, dại dại nào ai tránh vòng


Có khi nhẫn để bao dung

Ta vui người cũng vui cùng có khi


Có khi nhẫn để tăng uy

Có khi nhẫn để kiên trì bền gan

Có khi nhẫn để an toàn

Có khi nhẫn để rõ ràng đúng sai

Bạn bè quan hệ nào ai


Có khi nhẫn để khinh người trọng ta


Xem ra cũng khó đó mà

Chữ Tâm, chữ Nhẫn ngẫm ra cũng gần

Chữ Nhẫn được kết hợp bởi bộ đao (刀 ) ở trên và bộ tâm (心) ở dưới. Người xưa lấy hình ảnh rất đơn giản ấy để nói lên đức tính nhẫn nại, chịu đựng của con người. Hiểu một cách nôm na là khi đao đè lên tim mình (có thể đến ứa máu), nhưng mình vẫn có thể chịu đựng để vượt qua... khi ấy bản thân bắt đầu rèn luyện được đức Nhẫn. Người xưa nói: Luyện tính "nhẫn" như lúc nào cũng có lưỡi dao đè lên người là vậy. 

"Nhẫn" có nghĩa là biết lắng nghe, biết tiếp thu ý kiến của người khác, để điều chỉnh hành vi. 

"Nhẫn" là nhịn, sẵn lòng: nhẫn một tý để đỡ sinh chuyện, nhẫn nại, nhẫn nhịn, nhẫn nhục. 

Nhẫn nại: bền bỉ, chịu khó, chịu khổ, kiên trì theo đuổi đến cùng công việc đã đặt ra, nhẫn nại học tập, biết nhẫn nại, chịu khó, chịu khổ trong rèn luyện. 

"Nhẫn" còn có ý là chịu dằn lòng xuống để tránh bực tức, cãi vã: "Nhẫn nhịn nhiều chứ nếu không thì sinh chuyện rồi"... 

Ai cũng biết câu chuyện Việt Vương Câu Tiễn nằm gai nếm mật, là tấm gương tiêu biểu cho đức Nhẫn ấy. Nói rộng ra hơn, trong cuộc sống hàng ngày khi vấp phải những khó khăn, nếu biết nhẫn nại, kiên trì ắt sẽ thành công. 


Ý nghĩa của chữ NHẪN 

Từ xa xưa, tổ tiên ta muốn các thế hệ con cháu luôn luôn nhớ và thực hiện đức tính "nhẫn" đã nghĩ ra cách, dùng kim loại chế tác một cái vòng xỏ vào ngón tay để luôn nhắc nhở ta, rèn luyện lời ăn tiếng nói, hành vi cử chỉ sao cho tốt đẹp, gọi đó là cái "nhẫn". 

Thuở ban đầu, đời sống kinh tế còn thấp, nên nhẫn được làm bằng đồng thau, rồi tiến đến bằng bạc, và thế kỷ XX làm bằng vàng, hoặc nhẫn khảm đá quý. 

Có điều đáng nói là, không ít người chỉ coi chiếc nhẫn là đồ trang sức, nhằm tô thêm vẻ đẹp, sự sang trọng cho con người, mà quên hẳn, thậm trí không biết đó là một thực thể, để nhắc ta luôn luôn nhớ đến việc thực thi đức "nhẫn" trong đời sống hàng ngày. 

Đối với chiếc nhẫn cưới, cũng là thế! 


"Chữ NHẪN trên đầu ngọn cây" 

Câu này đã được nghe lâu lắm rồi trong quá khứ. Quả thật không ngoa. Trong nhà Phật, đây là một pháp môn rất thù thắng, không mấy ai dễ gì làm được. Sự nhẫn nhục có thể mất hết cả một đời người để luyện tập. Khi đạt được rồi thì mới thấy cái huyền diệu của nó, mới ngộ ra được cái gì gọi là "ta", và cái gì gọi là an lạc tư tâm và cho mọi người. 

Có lúc, người ta cho rằng nhẫn nhịn là một sự thiệt thòi và nhục nhã…cũng đúng trong nhiều trường hợp. Tuy nhiên, sự nhẫn nhịn ở đây phải tùy trường hợp, cái mà gọi là tuy duyên. Đó đòi hỏi sự sáng suốt quyết đoán để đưa cái ích lợi cho mình và người… 

Nếu người chẳng là ai và ta chẳng là ai, thể cái gì gọi là nhẫn, cái gì gọi là vinh, và cái gì gọi là nhục. Chỉ có những người trải nghiệm việc này thì tự cảm nhận được thôi. 




END


Phải Ít Nói


Phải Ít Nói


Có ai trong xã hội, không muốn cho kẻ khác biết giá trị của mình. Người ta tự nhiên thích những nhà huấn nghiệp, những kinh nghiệm, những đức tính của mình để kẻ khác ca tụng. Bạn ít nói, tức là bạn nhường cho người đàm thoại cái hân hạnh được tự giới thiệu mình. Họ có dịp mua lời khen ngợi, chắc chắn sẽ coi bạn như một tri kỷ.

Thiếu gì người, hay tìm cái hư danh trong chỗ nói nhiều để tỏ ra mình hoạt bát, học rộng. Bạn ít nói, tất nhiên, họ được cơ hội dùng lưỡi tha hồ chém mây chặt gió. Vì vậy, họ coi bạn là người biết tìm hiểu họ, ca tụng họ.

Không mấy người không có óc ham dạy đời. Thường người ta mở miệng là chỉ bảo, khuyên răn kẻ khác, một câu chuyện gây hứng thú, phải là cuộc trao đổi qua lại những tâm tưởng. Bạn biết rõ điều ấy, nên nhường lời cho kẻ khác thuyết trình những gì họ cưu mang trong tâm hồn. Nói được những điều ấy ra, họ cảm thấy câu chuyện làm họ sung sướng. Thế là bạn chiếm được thiện cảm của họ rồi. Giá bạn yêu cầu họ hy sinh đều gì không quá đáng chắc họ dễ dàng làm vừa lòng bạn. Bạn gặp hai người lạ.

Một người nói chuyện với bạn như két. Một người chăm chú nghe và thỉnh thoảng nói đôi tiếng thôi. Vậy, bạn có cảm tình với ai? Người thứ nhất đa ngôn, vô tình cho bạn biết sạch sành sanh tâm hồn của mình. Giá họ có ác tâm lập mưu kế gì hãm hại bạn, bạn cũng biết được chút ít. Còn người thứ hai huyền bí làm sao. Bạn không biết ý họ thế nào. Mỗi tiếng bạn nói ra, họ lóng tai nghe, và bởi vì họ ít nói, nên bạn cho rằng lời nói của họ là kết quả của suy nghĩ. Bạn nghe họ dễ dàng. Như vậy, đối với kẻ khác, tại sao bạn không bắt chước người thứ hai, bạn ít nói: Bạn làm cho kẻ khác kính nể. Tuy nhiên, không để họ nghi kỵ mình: Thỉnh thoảng bạn nên nói đôi lời đầy ý nghĩa và nhất là bạn chú ý nghe họ. Ai mà không kính phục và mến yêu họ.

Sáng suốt như tổng thống của nước mỹ, Ông théodore Roosevelt còn khiêm tốn thú nhận rằng, trong một trăm lần phán đoán có hai mươi lăm lần sai. Còn chúng ta thì sao? Vậy trước khi nói, tốt nhất chúng ta nên chịu khó suy nghĩ để bớt sai lầm. Muốn thế thì phải nói ít. Nói luôn miệng thì không có thời giờ "Đánh lưỡi bảy lần". Người ta không dám quả quyết điều gì, chớ vẫn dám bảo ai nói nhiều thì khó bề tránh khỏi nói bậy. Bạn ít nói tất nhiên, bạn tránh được nhiều lỗi lầm và chạm tự ái người nghe.

Mà bạn nói nhiều để làm gì? Có phải để người
đối thoại ghi nhớ tâm tưởng của họ không?
Điều chúng ta ước muốn họ am hiểu,
họ cũng hiểu trong một chừng mực nào đó thôi.
Họ lo trả lời.
Lo cắt nghĩa,
phân
tách,
chỉ trích,
chưng bày hiểu biết của mình.
Vậy sao bạn tốn hơi nói
thao thao
bất tuyệt.
Nói vừ đủ và nói kỷ là khẩu hiệu khi bàn chuyện.

Bạn ít nói, để khỏi phiền lòng người khác, trong cuộc sống, có không ít trường hợp người nghe bận việc, chẳng dư giờ đàm luận với ta, nên ta phải hết sức vắng tắt. Còn năm phút nữa bạn lên xe hỏa. Một người nó cứ kèm chân bạn thuyết nào chính trị, tôn giáo, nào con gà của y nhảy bể cái ly, nào vợ y có nghệ thuật trang điểm. Bạn có cảm tưởng thế nào đối với người ấy? Nếu bạn đa ngôn với ai khác, thiên hạ cũng có cảm tưởng đó đối với bạn. Nếu nói ít, mà bạn thấy câu chuyện hơi tẻ lạnh, bạn nên thúc đẩy họ nói. Không khó lắm. Bạn hãy hỏi về nghề nghiệp của họ. Gặp một bác sĩ, bạn hỏi họ về thuật chuẩn mạch, cách đoán bệnh trạng và những thành công của họ bấy lâu. Nói chuyện với nhả sử học, bạn chất vấn họ về những trào lưu tiến thoái của một nền văn hóa, văn minh nhân loại v.v...

Ai mà không thích nói những sở trường của mình? Phần đông con người, hay cho mình là quan trọng, biết vậy, sao bạn không gài chỗ ngứa của họ. Bạn đưa tiếp một người làm chánh quyền, thì bạn cứ hỏi họ, cách nào mà họ cai trị được người ta mến như vậy? Nhờ đâu họ có địa vị cao sang ấy? Câu chuyện của bạn với một nhà doanh nghiệp lạnh lạt quá à? Sao bạn không hỏi kế hoạch kinh doanh của ông có thể đem lại kết quả thế nào? Chắc kết quả mỹ hảo lắm. Ông thuyết cho mà coi. Bạn lúng túng trước một nhà văn, vì thấy họ mà bạn không biết phải bàn vấn đề gì. Thì cứ nghề viết văn mà hỏi: Làm sao bước vào nghề cao quý ấy. Tác phẩm của ông hay như vậy: Ông viết cách nào. Nghề văn có cực lắm không. Thường viết một tác phẩm bao lâu. Việc xuất bản có những trở ngại nào...

Một ích lợi nữa. Ở trên chúng ta đã nói, khi ít lời, bạn tránh được sai lầm trong tư tưởng. Người nghe của bạn cũng tin cậy ở bạn điều ấy. Một luật hết sức tự nhiên, là người ta quý trọng lời của kẻ ít nói. Bạn cáng tiếc lời, thiên hạ càng chú ý nghe. Có khi bạn nói ra những tư tưởng không sâu sắc gì. Nhưng bởi vì người nghe yên trí rằng, bạn là người "Ăn có nhai, nói có nghĩa". Nên trọng những tư tưởng của bạn như vàng.

Tóm lại, nói ít được nhiều ích lợi. Từ đây, trong câu chuyện hằng ngày, bạn hãy cương quyết hãm khẩu. Có khi đọc xong Phần này, bạn hối hận sự đa ngôn đã qua của mình. Bạn cố gắng đặt cho ngọn lưỡi một dây cương để trì nó lại khi bạn nói. Nhưng rồi vài bữa sau, bạn cũng thấy mình trở lại tật cũ. Tuy nhiên, bạn cố gắng canh phòng nó hàng ngày. Bạn hãy viết mấy tiếng này để mỗi sáng tự ám thị: "Hãm khẩu. Hãm khẩu. Hãm khẩu". Trên đường tu tâm, tuy chưa thành công được điều gì, nhưng đã thắng được ngọn lưỡi, bắt nó ít nói là đã thành công khá lắm rồi. Thánh nhân có câu: "Nếu ai không phạm tội trong lời nói, người ấy là kẻ hoàn toàn, có thể kiềm hãm cả thân thể mình. Nếu bạn không tin lời chúng tôi, thì ít ra, bạn nên suy gẫm trong lòng những tiếng vàng ngọc ấy.



END