Tìm kiếm blog này

Tìm hiểu ý nghĩa của số IMEI trên ĐTDĐ

IMEI là từ viết tắt của International Mobile Equipment Identity – Mã số nhận dạng quốc tế của thiết bị di động. Mỗi số IMEI là một dãy gồm 15 chữ số, được cung cấp cho duy nhất 1 thiết bị di động sử dụng mạng GSM hay UMTS (các thiết bị sử dụng mạng CDMA không có số này). Vì thế, một số thiết bị khác cũng có thể được cấp số IMEI như laptop hay USB Internet … không nhất thiết phải là điện thoại di động.

Đây là một tiêu chuẩn quốc tế mà mỗi nhà sản xuất điện thoại đều phải tuân theo khi tung ra các sản phẩm. Theo tiêu chuẩn đó, nhà sản xuất sẽ đưa mã số IMEI vào phần cứng của chiếc điện thoại và đảm bảo rằng con số này không thể thay đổi được. Để khi phân tích một mã IMEI, người ta có thể biết được các thông tin chính xác về chiếc điện thoại mang mã số đó như: nhà sản xuất, năm sản xuất, tên model, nơi phân phối…


Số IMEI thường được sử dụng để nhận dạng sự hợp pháp của thiết bị, nhờ đó mà các máy không hợp pháp sẽ không được hoạt động trên mạng. VD: bạn có thể kiểm tra mã số IMEI của 1 chiếc điện thoại di động để biết nó có phải là hàng ‘chính hãng’ hay không. Khi bị mất cắp, bạn cũng có thể yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ chặn kết nối từ số IMEI này, cho dù có lắp sim khác vào máy.

Thông thường, số IMEI có thể tìm thấy ở bao bì sản phẩm, thẻ bảo hành, trên thân máy (tháo rời pin hay vỏ máy để tìm). Bạn cũng có thể xem trực tiếp trên màn hình điện thoại bằng cách ấn chuỗi kí tự *#06# (cách này có thể không hoạt động ở một số mẫu điện thoại cũ). Khi có được mã số IMEI, bạn có thể liên lạc với nhà sản xuất để kiểm tra.

Trên Internet có một số website cho phép bạn có thể tự kiểm tra số IMEI của mình và cho kết quả khá chính xác, như trang web
International Numberingplans. Bạn cần nhập đủ 15 chữ số IMEI vào ô trống, sau đó ấn vào nút Analyse để xem kết quả.

http://www.numberingplans.com/?page=analysis&sub=imeinr







Làm cách nào bạn có thể làm tình nguyện nếu bạn không có thu nhập, không có tiền bạc và phải lo lắng về cách kiếm bữa ăn mỗi tối cho con cái bạn?


Trong 1 bài báo đăng trên Mạng Tình Nguyện Viên Thế Giới (1) tháng 12/2005, một sinh viên Đại Học ở Yemen đặt câu hỏi: “Làm cách nào bạn có thể làm tình nguyện nếu bạn không có thu nhập, không có tiền bạc và phải lo lắng về cách kiếm bữa ăn mỗi tối cho con cái bạn?. Xin phép những ai đang kêu gọi người Yemen làm tình nguyện, tôi muốn nói là: “Xin hãy suy nghĩ kỹ!”.

Cũng trong một bài viết trên BBC nêu lại cùng một vấn đề, Tom Geoghegan phát biểu: “Viễn cảnh làm việc không lương ắt là không hấp dẫn lắm đối với một người vừa ra trường thiếu tiền mà lại muốn giúp mẹ kiếm tiền ăn. Khi việc làm tình nguyện thường chỉ được đưa ra 1 chiều như là 1 hoạt động lao động tự do được chính quyền công nhận thì những phản ứng như thế là hoàn toàn hợp lý.”

Việc phát triển xu thế sử dụng tình nguyện viên hiện nay, dù là ở nước giàu hay nghèo, đều tập trung chủ yếu vào các hoạt động được chính phủ phê duyệt: chính quyền hay các tổ chức lớn thông qua việc tài trợ cho các chiến dịch như thế khuyến khích mọi người làm việc không lương nhằm hướng đến nhu cầu của xã hội và cộng đồng, đến lợi ích là một cộng đồng tốt đẹp hơn, sự tự trọng được nâng cao hơn ở các tình nguyện viên và chi phí ít hơn dành cho các hoạt động như thế bởi vì những tình nguyện viên không được trả lương. Đó là một cách nhìn cực kỳ hạn chế về tình nguyện là gì, sức mạnh và tầm quan trọng thực sự của tình nguyện. Nên không có gì ngạc nhiên vì sao mà người thất nghiệp và người bị tước quyền công dân nhạo báng các chiến dịch như thế.

Lịch sử thế giới rất phổ biến những tấm gương tình nguyện do những người thất nghiệp và bị tước quyền công dân khởi xướng có tác động tích cực đến con người và môi trường mà họ ở trong thế đương đầu với chính quyền và các tổ chức quyền lực khác. Những hoạt động này đôi khi lần đầu tiên trao quyền công dân trọn vẹn cho những người tình nguyện. Những người đã đến miền Nam Hoa Kỳ trong những thập niên 50, 60 để đăng ký làm cử tri, để “thắp” tia sáng nhỏ nhoi lên sự bất công xã hội và ngăn chặn chính sách Jim Crow (2), một kiểu Apartheid của Mỹ? Họ chính là những người tình nguyện không kể đến lợi ích xã hội của bản thân và thường đấu tranh chống lại chính quyền và các tổ chức có thế ở địa phương để cải tiến xã hội Hoa Kỳ và thay đổi chính số phận bản thân họ tốt hơn. Hay người dân địa phương tham gia vào các cuộc vận động để phản đối tục lệ cắt bộ phận sinh dục nữ hay để nâng cao quyền nữ giới thường ở trong thế chống đối trực tiếp với những nhà cầm quyền cộng đồng đại phương và những tín ngưỡng lâu đời? Một lần nữa lại là những người tình nguyện và thường là người không có được công việc trọn vẹn. Nhưng hầu hết các chiến dịch và hội nghị về tình nguyện bỏ qua những người nồng nhiệt tham gia chiến dịch tình nguyện này, những người mà Mary Merrill (3) gọi là “những thành viên đội giữ gìn xã hội” và “những nhà doanh nghiệp”.

Nói đến tình nguyện như một cách để đòi hỏi với chính quyền hay các tổ chức quyền lực khác hoặc để trao quyền lợi cho người dân và cộng đồng có thể sẽ khá hấp dẫn đối với người sinh viên Yemen đã nói đầu bài hoặc những người thất nghiệp, bị tước quyền công dân. Tuy nhiên, các chiến dịch chính yếu sẽ tiếp tục thúc đẩy chương trình tình nguyện như là một hoạt động “có tâm” và là một cách mà chính quyền hay các tổ chức khác không phải trả cho những người hoạt động tình nguyện - một thông điệp vào lúc này không cộng hưởng cùng quá nhiều thông điệp khác.

Những chiến dịch như thế cũng tạo ra một xu hướng xem việc phục vụ cộng đồng ngang với hoạt động tình nguyện. Tuy nhiên, nếu một người được trả lương để giúp đỡ cho cộng đồng thì người đó không còn là tình nguyện viên. Điều đó không có ý nói rằng vì tờ biên nhận tiền mà người đó ít tận tâm hơn một tình nguyện viên bởi tôi chắc chắn đã gặp được những nhân viên được trả lương của UNDP (4) và các tổ chức phi chính phủhết lòng và tận tâm từng chút trong công việc của họ nhưnhững người phục vụ không lương. Nhưng “tình nguyện viên” nên mang ý nghĩa là một người làm không lương hay ít nhất hy sinh một khoảng thời gian có ý nghĩa của mình để phục vụ cộng đồng toàn thời gian. Trong một số trường hợp nhất định thì các tình nguyện viên là phù hợp nhất để bố trí nhân viên trong giai đoạn đầu trong khi ở các trường hợp khác có thể kêu gọi nhân viên được trả lương - những trường hợp này không liên quan gì đến việc có ngân sách để trả cho nhân viên hay không.

Nếu chính phủ hay các nhà hảo tâm muốn các chiến dịch tình nguyện ở các nước nghèo thực sự hướng đến việc làm tự nguyện hơn thì họ phải cập nhật triệt để thông điệp này. Họ phải sẵn sàng để chỉ ra vì sao là những tình nguyện viên chứ không phải là nhân viên được trả lương thích hợp nhất cho một nhiệm vụ riêng biệt, ngoài ra không có ngân sách nào trả cho những người làm việc đó. Họ phải chỉ ra làm thế nào những người mà họ đang cố gắng lôi kéo làm tình nguyện sẽ hưởng lợi trực tiếp dưới dạng một công việc tiềm năng, hay một cuộc sống tiến bộ hơn và một tiếng nói có trọng lượng hơn. Họ cần chỉ ra rằng làm tình nguyện có thể đem đến cho người ta một cái nhìn thực tế về công việc của chính phủ và các tổ chức khác, một cách nhìn và tiếng nói trên nền tảng thực tế để tán thành hay phản đối công việc đó. Họ cần giải thích rằng tình nguyện viên cũng có thể có những việc cần làm cho sự phục vụ của họ bởi vì những điều này thúc đẩy những tình nguyện viên làm việc. Hơn nữa chính phủ và các đơn vị hảo tâm cần để những cá nhân có trách nhiệm xác định các mục tiêu và nhng hoạt động tình nguyện của chính họ, cần sẵn sàng cho những hoạt động này và ít nhất là đôi khi làm trái với những chương trình của những người tham gia chiến dịch tình nguyện.

Nghĩ và nói khác đi là một vấn đề thử thách đối với những người chủ đạo khởi xướng hoạt động tình nguyện. Nhưng nếu không đối đầu với những thách thức này thì chúng ta sẽ khiến các thế hệ và những nhóm tình nguyện trên toàn thế giới rút khỏi hoạt động tình nguyện. Điều đó sẽ là một thảm kịch.

(1)World Volunteer Web www.worldvolunteerweb.org

(2)Jim Crow laws: là một số bộ luật được ban hành vào nửa cuối thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20, chủ yếu tại miền nam nước Mỹ, chống lại hầu hết các ưu tiên mới được dành cho người Mỹ da đen sau cuộc nội chiến.

(3)Mary Merrill: www.merrillassociates.net

(4)UNDP – United Nations Development Program – Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc

Bài dịch từ dự án VTVV
Người dịch : NGUYỀN THỊ PHƯƠNG THUỲ

Original Article: Appallingly limited view of volunteering

Source: http://www.worldvolunteerweb.org/?id=10095

Bài được cung cấp bởi
Pinkie








Trẻ lang thang

Trẻ lang thang là những đứa trẻ kiếm sống hàng ngày trên đường phố ,những đứa trẻ khiến không ít tình nguyện viên cảm thấy khó khăn khi lần đầu tiếp xúc .Đặc điểm trẻ lang thang :TRẻ lang thang là những đứa trẻ thích tự do ,không chịu sống trong khuôn khổ ,các em thường có tính phòng vệ cao ,đôi khi hơi hung hãn .Tuy vậy ,các em thường tỏ ra hào hiệp ,tương trợ và thông cảm những người cùng cảnh ngộ .Các em có tính tự lập cao và biết cách tổ chức cho cuộc sống riêng của mình .
Làm thế nào để làm quen với trẻ ?Hỏi chuyện các em là một cách tốt nhất giúp các em đỡ căng thẳng và tâm sự một cách thoải mái ,khi bắt chuyện với các em cần lưu ý :
-Nếu không quen biết em đó ,chúng ta nên giới thiệu đơn giản chúng ta là ai ?Vì sao lại có mặt ở đó .Còn nếu đã quen các em ,hãy nói rõ lý do cuộc trò chuyện ,ví dụ như :"Chị nghe nói em muốn tìm một công việc mới ?,chị có thể giúp em một chút đấy "
-Cuộc nói chuyện với trẻ cần đựoc tiến hành trong không khí yên tĩnh và thoải mái .Chúng ta có thể bắt đầu bằng những câu đơn giản như "Em tên là gi ?EM bao nhiêu tuổi?"Điều quan trọng là giải thích cho các em rằng :câu chuyện của chúng ta là chuyện riêng và sẽ không một ai được biết cả .
-Thường các cuộc nói chuyện với các em rất ngắn,điều đó làm cho các em bị căng thẳng ,gây khó khăn cho sự giao tiếp .Các em cần thời gian để có lòng tin ,khi trò chuyện hãy dùng những câu mang tính gợi mở ,tránh những câu hỏi chỉ nhận được câu trả lời có hoặc không .
-Điều nên làm là chúng ta cần tập trung trong khi giao tiếp như :Chăm chú lắng nghe những điều trẻ nói ,quan sát sự thay đổi nét mặt trẻ để đoán tâm tư trẻ ,chúng ta cần gật đầu hoặc mỉm cười tán thành để chứng tỏ chúng ta rất quan tâm đến điều đang nghe .Tốt nhất không nên ghi chép ngay ,nếu cần hãy nói rõ lý do với trẻ để thể hiện chúng ta tôn trọng các em .
Mục đích của việc tiếp xúc trẻ ?Tìm hiểu hoàn cảnh ,tâm tư ,nguyện vọng của trẻ để qua đó có những hỗ trợ càn thiết .Khi bạn phụ trách 1 hay 1 nhóm trẻ ,việc cần thiết là lập hồ sơ trẻ gồm :
-Tiểu sử trẻ :Tên tuổi ,quê quán ,gia đình ,trình đọ học vấn ,đã ở bao lâu trên đường phố ,tại sao phải đi lang thang ?
-Tình hình hiện tại :Sức khoẻ ,mối quan hệ hiện thời với gia đình ,điều kiện ăn ở ,sống bằng nghề gì ,thu nhậpkbao nhiêu ?Những mong muốn và khó khăn hiện tại ?
-Quan hệ xã hội khác :Hoạt động một mình hay theo nhóm ?Có sự hỗ trợ tổ chức nào không ?đã bị bắt lần nào chưa ?
Giúp đỡ trẻ như thế nào ?
-Giúp các em tự tổ chức các hoạt động dịch vụ phù hợp như :bán báo ,đánh giày ,các tình nguyện viên nên giúp các em phân công lao động ,củng cố đoàn kết và phân chia tài chính .
-Tổ chức các lớp học tình thương ,lớp học nghề ,các chương trình vui chơi giải trí qua đó giáo dục thái độ và cách sống tích cực .
-Giới thiệu trẻ đến các trung tâm từ thiện của xã hội với điều kiện trẻ tự nguyện ,không ép buộc .
Các tình nguyện viên cần lưu ý
-Đến với các em bằng tình cảm chân thành ,xoá bỏ mặc cảm đối với trẻ như :thưong hại ,né tránh ,khinh ghét ,thị uy ..tìm hiểu cảnh ngộ ,tôn trọng tự do và nhu cầu của trẻ .
-Giúp đỡ một cách thiết thực ,tôn trọng quyền tự quyết của trẻ ,phát huy tiềm năng sẵn có của trẻ ,giúp các em hoà nhập cộng đồng .
-Luôn luôn thành thật với các em ,không nên vì an ủi mà hứa những việc không thể thực hiện được
Đây là những điều căn bản giúp các tình nguyện viên tiếp xúc với trẻ lang thang ,xong,không có công thức chung để giải quyết các vấn đề về trẻ đường phố ,cần linh hoạt cho từng trường hợp ,tránh chủ quan ,áp đặt .






Tắt máy, Sleep và Hibernate chọn cái nào ?

Khi sử dụng máy tính ai cũng biết lúc thoát khỏi hệ điều hành cần phải tắt nguồn màn hình luôn,điều này sẽ giúp kéo dài tuổi thọ màn hình, bởi vì nếu không làm như vậy thì màn hình chỉ ngủ và vẫn đang hoạt động(dùng điện để ngủ).
Nếu tình trạng này kéo dài,đèn hình sẽ bị yếu ( đối với màn hình CRT) hoặc xuất hiện các điểm ảnh hỏng ( đối với màn hình LCD )
Tuy nhiên đối với hệ thống máy tính thì khác,ta nên để nó luôn hoạt động.Rất nhiều người không nhận ra rằng khởi động máy tính từ tình trạng lạnh ngắt của các bộ phận như:bộ nguồn,bo mạch,ổ cứng... sẽ làm suy giảm nhiều tuổi thọ của chúng.Hồi trước đứa bạn Sắc huynh mỗi khi tắt máy tính nó còn rút điện ra luôn chứ.Sắc huynh đã nhắc rồi nhưng không nghe thế là 1 năm rưỡi sau máy nó bị hư nguồn và ổ cứng thì bad tùm lum.Thì anh em cứ tưởng tượng một cầu thủ khi ra sân thi đấu mà không warn up sẽ đá được bao lâu?! . Giải pháp mình đưa ra ở đây là nên để cho máy tính ngủ ở chế độ Hibernation thay vì shutdown hoàn toàn khi không làm việc với nó nữa.
Bài viết này mình sẽ trình bày cụ thể với mọi người về chế độ Hibernate,cách kích hoạt cũng như tạo shorcut trong các phiên bản winxp,vista,win7


-Turn off: Khi bạn sử dụng chế độ Turn off, máy tính của bạn sẽ đóng tất cả các ứng dụng và cửa sổ giao tiếp và tiến hành tắt máy vi tính.
- Hibernate: Khi bạn sử dụng chế độ Hibernate, máy tính của bạn sẽ lưu cấu hình tất cả các ứng dụng và cửa sổ giao tiếp hiện hành và tắt máy vi tính, lần sau bạn bật máy lên, tất cả hiện trạng lúc bạn tiến hành tắt máy bằng hibernate sẽ hiện lại như cũ cho bạn.
Hibernate là 1 chức năng, 1 cách ngừng làm việc của máy vi tính mà microsoft tích hợp trong Windows và ban đầu nó luôn được đặt trong trạng thái chưa được khởi động.
Để khởi động Hibernate, Yêu cầu ổ C của bạn phải có dung lượng thừa ( Free Space ) lớn hơn 1 GB. Bạn kích hoạt Hibernate bắng cách khởi động Control Panel >> Power Options. Bạn sẽ mất 1 dung lượng từ Free Space của ổ C để làm bộ nhớ ảo cho Hibernate sử dụng để lưu tất cả những giao tiếp của bạn với máy khi tắt máy. Như vậy nó chiếm 1 dung lượng bộ nhớ của ổ C trong HDD của bạn.
Hoặc bạn có thể làm nhanh hơn bằng cách sau:
b1. Nhấp chuột phải trên Desktop sau đó chọn Properties cho đến khi "Display Properties" cửa sổ xuất hiện.
b2. Sau đó bấm vào "Bảo vệ màn hình" và sau đó nhấn "Power" nút ở dưới bên phải cho đến khi "cửa sổ" Power Option Properties xuất hiện



b3. Sau đó Click vào "Hibernate tab" sau đó đánh dấu "Enable Hibernate".

b4. Sau đó, Click Apply và OK
b5. Khi kích hoạt, Click vào START sau đó Click vào Turn Off Computer và sau đó sẽ hiển thị "Hibernate" Nút Lựa chọn và nhấn vào nút Hibernate.
b6. Nếu nó không xuất hiện, bấm và giữ nút Shift trên bàn phím cho đến khi chờ sẽ thay đổi để Hibernate.

Cơ chế hoạt động của Hibernate: Với việc bạn kích hoạt Hibernate, khi bạn nhấn chọn Start và chọn Turn off, sẽ có 3 sự lựa chọn cho bạn Hibernate - Turn off - Restart.
Khi bạn chọn Hibernate, Máy tính tiến hành lưu cấu hình đang hoạt động và giao tiếp vào bộ nhớ Hibernate sau đó mới tiến hành tắt máy.

Như vậy, khi so sánh 2 kiểu tắt máy bằng Turn off và Hibernate có sự khác biệt rõ ràng.

Điểm giống là: đều là công cụ tắt máy hay ngưng sự hoạt động của máy tính.
Điểm khác nhau: Turn off: Tắt là tắt hết còn Hibernate thì cơ cấu ở trên, mình đã nêu
Đối với win7 và vista bạn làm như sau
B1: Mở Command prompt với quyền Admin và gõ Powercfg /hibernate on
Đóng Command prompt lại
Bước này chỉ để kích hoạt chức năng Hibernate thôi. Nếu máy bạn đã kích hoạt rồi thì bỏ qua bước này.
Sau bước này Khổ nỗi đã kích hoạt mà sao vẫn không thấy nó vô start menu? Ta làm bước tiếp sau đây- Rất quan trọng
B2: Vào start>Search gõ Power options và enter để mở của sổ setting Power options: Bạn kích chọn như hình sau:

Và chọn như hình sau:

Xuống Mục Sleep và chọn OFF như hình:

Thoát ra và kiểm tra thấy như thế này!!!



Tạo một shorcut cho Hibernate:
Nếu bạn đang sử dụng XP, phải chắc chắn rằng nó đăng được thiết đặt để cho phép chế độ Hibernation. Để làm điều này, vào Start -> Run, gõ powercfg.cpl, và nhấn Enter. Chọn thẻ Hibernate. Nếu Enable hibernation không được đánh dấu chọn, thì đánh dấu vào nó và nhấn OK

Để tạo một Shorcut, nhấn chuột phải lên desktop và chọn New -> Shortcut. Một trình Wizard sẽ hiển ra yêu cầu bạn cho đường dẫn đến một mục nào đó, đây chính là câu lệnh mà bạn muốn chạy chế độ Hibernate.

Nếu bạn đang dùng XP, gõ vào dòng lệnh sau:

windir%\system32\rundll32.exe powrprof.dll,setsuspendstate hibernate

%windir%\system32\rundll32.exe powrprof.dll,SetSuspendState hibernate

Đối với Vista, bạn dùng câu lệnh đơn giản hơn nhiều:

shortcut -h

shutdown h

Sau khi hoàn tất bước trên, bạn nhấn Next. Đổi tên Shorcut là Hibernate và nhấn Finish.

Nếu bạn muốn xem tất cả mọi thứ bạn có thể làm được với câu lệnh Shutdown, bạn chọn Start -> Run -> cmd shutdown /? sau đó nhấn Enter.
Thật ra với win7 và vista thì khỏi cần tạo shorcut vì nó đã nằm sẵn trong mục shutdown
Tình huống hội thoại sau giải thích trình tự và cách thức sử dụng các chức năng Tắt máy, Sleep và Hibernate trong Windows Vista. Sự khác biệt giữa Sleep và Hibernate cũng được trình bày trong phần này.
Bạn có biết cách tắt máy trong Windows Vista không?

Trong Windows XP, tôi bấm Start, sau đó chọn Shut Down
Để tắt máy trong Windows Vista, chọn Start, chọn mũi tên bên cạnh biểu tượng hình chiếc khóa.
Thu gọn hình ảnh nàyBung rộng hình ảnh này


sau đó chọn Shutdown.
Thu gọn hình ảnh nàyBung rộng hình ảnh này

Vậy để tôi thử xem..
Ồ, bạn chờ chút. Nếu bạn cần sử dụng máy tính trong giây lát, chỉ cần chọn chế độ Sleep.
Chế độ “Sleep” là gì vậy?
Trong chế độ Sleep, các tài liệu và chương trình đang mở của bạn sẽ được lưu vào bộ nhớ và máy tính sẽ chuyển sang chế độ Tiết kiệm điện. Bạn chỉ mất vài giây để khởi động lại máy tính. Do vậy chế độ này rất hữu dụng! Chế độ Sleep giống như chức năng tạm dừng khi ta xem một đoạn phim hay DVD.

Để khởi động chức năng Sleep , chọn Start và bấm nút sau.
Thu gọn hình ảnh nàyBung rộng hình ảnh này
Khi tôi chọn Shutdown, tôi thấy có chức năng Hibernate bên cạnh Shutdown và Sleep. Chế độ Hibernate là gì vậy?
Chế độ Hibernate sẽ lưu các tài liệu và chương trình đang mở của bạn vào ổ đĩa cứng, sau đó tắt máy tính của bạn. So với chế độ Sleep, máy tính khởi động chậm hơn. Nhưng khi máy tính khởi động ta có thể làm việc ngay với các tài liệu và chương trình trước đó. Do vậy chế độ này cũng rất hữu dụng.
Trong chế độ Sleep, các tài liệu và chương trình sẽ được lưu vào bộ nhớ còn trong chế độ Hibernate chúng sẽ được lưu vào đĩa cứng.
Đúng vậy! Trong chế độ Sleep, máy tính sẽ vẫn sử dụng một lượng nhỏ điện năng, nhưng chế độ Hibernate sẽ không sử dụng điện.

Cần lưu ý rằng bạn có thể chỉ thấy một trong hai chế độ Sleep hoặc Hibernate. Điều này phụ thuộc vào cấu hình máy tính của bạn.
Từ giờ tôi sẽ sử dụng các chế độ Shut Down, Sleep và Hibernate trong các tình huống phù hợp.







Công việc là điều bạn phải làm cả cuộc đời


Thái độ làm việc thể hiện chỉ hướng của con người. Muốn tìm hiểu thái độ làm việc của một người, hãy tìm hiểu thái độ của anh ta với cuộc sống.

Bạn lựa chọn một công việc như thế nào? Thái độ làm việc của bạn ra sao? Về cơ bản mà nói, đây không phải là vấn đề liên quan đến việc bạn làm gì và nhận được thù lao bao nhiêu, mà là vấn đề liên quan đến ý nghĩa của cuộc sống mỗi con người.

Công việc là điều bạn phải làm cả cuộc đời

Một nhà tâm lí học khi nghiên cứu sự phản ứng tâm lí khác biệt giữa từng cá thể khi tiếp xúc với cùng một loại công việc đã đến một nhà thờ đang trong quá trình xây dựng, hỏi những người công nhân đang xây dựng.

Nhà tâm lí học hỏi người công nhân thứ nhất ông gặp: “Xin hỏi anh đang làm gì thế?”

Anh ta trả lời: “Ông không thấy sao? Tôi đang phải đập đá, mà những tảng đá kia thì cứng quá và to quá. Công việc thật nặng nề vượt quá sức người. Hai tay tôi đau rát, toàn thân mỏi nhừ. Đây là việc cần sức trâu ngựa, không phù hợp với con người tí nào vậy mà tôi vẫn phải làm vì cuộc sống.”

Ông lại hỏi người công nhân thứ hai: “Xin hỏi anh làm công việc này vì lý do gì?”

Người công nhân thứ hai trả lời: “Làm việc để mỗi ngày kiếm được 2 dollar đủ để đảm bảo cho .gia đình tôi sống qua ngày. Nếu không vì gia đình, chẳng ai muốn làm cái việc đập đá vất vả này. "

Nhà tâm lí học hỏi người công nhân thứ ba: "Xin hỏi, anh đang làm gì thế?”

Người thứ ba trả lời rất vui vẻ: "Tôi đang góp phần công sức nhỏ bé của mình để xây dựng toà nhà xinh đẹp này. Sau khi xây xong nhất định sẽ có rất nhiều người tới đây. Công việc này tuy vất vả nhưng mỗi khi nghĩ đến sẽ có rất nhiều người đến cầu Chúa ban phước lành cho họ cho mọi người nghèo khổ trên thế gian này, tôi lại không hề thấy mệt mỏi."

Với cùng một công việc, cùng một môi trường làm việc tại sao lại có những suy nghĩ khác nhau đến vậy?

Với người công nhân thứ nhất, tình hình không thể thay đổi, cứu vãn được. Trong tương lai không xa, anh ta nhất định sẽ thẳng nhận được gì do công việc và thái độ lao động mang lại, thậm chí có thể theo thời gian anh ta trở thành một kẻ vô dụng, đánh mất hoàn toàn rơm cách của bản thân.

Người công nhân thứ hai, là người không hề có trách nhiệm với công việc và không thấy được niềm vui cũng như vinh quang của sự lao động.

Đối với 2 loại người này, cho dù người chủ lao động có hi vọng gì về họ cũng chỉ là uổng công vô ích, bởi họ mang một tâm lý là làm việc để kiếm tiền chứ không phải vì công việc mà làm việc. Họ không phải là người mà người quản lý có thể giao cho những nhiệm vụ quan trọng, đồng thời những người này cũng khó có được sự thừa nhận, đánh giá cao về khả năng lao động của xã hội.

Nhà tâm lí học người Mỹ Mark Abraham đã đưa ra “5 cấp độ nhu cầu” như sau:

1. Nhu cầu cơ bản: Nhu cầu có cơm ăn áo mặc, chống lại đói rét và giá lạnh.
2. Nhu cầu an toàn: Nhu cầu được sống ở một nơi an toàn.
3. Nhu cầu xã hội: Nhu cầu được chia sẻ niềm vui sở thích và được giao lưu với mọi người.
4. Nhu cầu được tôn trọng: Nhu cầu được người khác tán dương và chấp nhận.
5. Nhu cầu được phát huy hết năng lực bản thân và tự mình làm việc.

Nhà tâm lí học trên cho rằng, những người làm việc vì công việc sẽ có rất ít cơ hội thoả mãn đầy đủ quyền thứ 4 và quyền thứ 5 bởi nhu cầu trong cuộc sống của họ không được thoả mãn đầy đủ ở mức độ cao nhất, hoặc dù ít dù nhiều, họ cũng mất đi một phần niềm vui trong cuộc sống.

Vậy chúng ta nên nói về người công nhân thứ 3 như thế nào? Ở người công nhân này không hề mảy may có hình bóng của những lời oán trách, ngược lại anh là một người có tinh thần trách nhiệm cao với công việc và có khả năng sáng tạo tốt. Do luôn luôn làm việc chăm chỉ, anh cảm nhận được niềm vui trong công việc và ý nghĩa thực sự của cuộc sống. Người công nhân thứ 3 mới thực sự là người công nhân có thái độ lao động đúng đắn và sẽ trở thành người ưu tú, là người mà xã hội cần tới.

Vậy công việc là gì? Từ điển của một số quốc gia theo đạo Thiên chúa giải thích thế này: “Công việc là nhiệm vụ cao cả mà Thượng đế đã sắp đặt, là sứ mệnh quan trọng Người đã giao cho con người”. Cách lí giải này tuy mang đậm màu sắc tôn giáo, nhưng ở đó đều truyền tải một nội dung tư tưởng chung là: Những người không có cơ hội làm việc hay không cảm nhận được niềm vui từ chính công việc của mình chính là những người làm trái với nguyện vọng của Thượng đế, những người đó sẽ không có cơ hội hưởng thụ trọn vẹn cuộc sống. Công việc là mục đích bạn đạt được sau khi nỗ lực làm việc. Khi công việc cho chúng ta cơ hội thể hiện tất cả tài năng và tính cách bản thân, chúng ta hãy hài lòng vì công việc của mình. Cuộc sống chỉ có một mà thôi. Khi chúng ta muốn hoàn thiện bản thân hay chỉ đơn giản là muốn đạt được một điều gì đó. Chúng ta mới đề ra cho mình mục tiêu để hướng tới và phấn đấu.

Công việc là một võ đài để chúng ta thể hiện tài năng. Những kiến thức mà chúng ta đã gian khổ tích luỹ, khả năng ứng biến và sự quyết đoán hay khả năng thích ứng của chúng ta sẽ đều được thể hiện trên võ đài ấy. Ngoài công việc, không có gì có thể giúp chúng ta thể hiện được năng lực bản thân, cho chúng ta cơ hội thể hiện chính mình hay chỉ là một lí do chúng ta đang tồn tại trên cuộc đời. Chất lượng công việc quyết định hoàn toàn chất lượng cuộc sống của chúng ta.

Công việc của một người thể hiện thái độ của anh ta với cuộc sống và đồng thời cũng thể hiện lý tưởng và chí hướng của anh ta. Vì thế, việc tìm hiểu thái độ làm việc của một người cũng cho ta hiểu anh ta ở một mức nào đó. Cựu Bộ trưởng Bộ giáo dục Hoa Kỳ, nhà giáo nổi tiếng William Beneth đã nói: “Công việc là điều chúng ta phải làm cả cuộc đời”.

Trước đây, có thể có người mang suy nghĩ giống người công nhân thứ nhất hay người công nhân thứ hai, họ luôn trách móc, bực tức với mọi thứ, chẳng có chút nhiệt tình nào với công việc của mình và luôn sống một cuộc sống tẻ nhạt.

Trước đây, thái độ làm việc của bạn như thế nào không quan trọng, dù sao đó cũng chỉ là những điều trong quá khứ, quan trọng là từ bây giờ, thái độ làm việc của bạn sẽ thế nào?

Chúng ta hãy giống như người công nhân thứ ba, hãy mang sự nhiệt huyết trong tim để có được cơ hội làm việc, làm việc chăm chỉ để thấy được giá trị bản thân và cảm nhận được niềm hạnh phúc trong cuộc sống.

Nguyễn Quang Thái
Làm việc - cách tốt nhất để hoàn thiện chính mình




zippo regular identify code


The majority of this information is taken from David Poore's book, ZIPPO: The Great American Lighter.
The Zippo dating information shown below is more accurate than the current Zippo® Collector's Guide, but omits various details regarding changes in logo style, design, word spacing, and unique variations. The best source of complete information on Zippo lighter dating is David's book and this book is a must for any serious collector. The dating information shown here will suffice though in a great many cases.

Year Regular Slim

Left Right Left Right
1932 ZIPPO MFG. CO. BRADFORD.PA.
ZIPPO
PAT. PENDING MADE IN U.S.A.
Not Made Yet
The case is 2-7/16" tall, 1/4" taller than 1934-1936 outside hinge plate models.
1933 ZIPPO MFG. CO. BRADFORD.PA.
ZIPPO
PAT. PENDING MADE IN U.S.A.
Not Made Yet
Case is still 2-7/16" tall during the 1st quarter of 1933. Mid-1933, Zippo reduced
the case to 2-3/16 inches in height. True 1933's are 2-7/16" tall.
1934 ZIPPO MFG. CO. BRADFORD.PA.
ZIPPO
PAT. PENDING MADE IN U.S.A.
Not Made Yet
1935 ZIPPO MFG. CO. BRADFORD.PA.
ZIPPO
PAT. PENDING MADE IN U.S.A.
Not Made Yet
1936 ZIPPO MFG. CO. BRADFORD.PA.
ZIPPO
PAT. 2032695 MADE IN U.S.A.
Not Made Yet
This 1936 model must have an outside four barrel hinge and the "PAT. PENDING" logo. All
true 1936's through 1941's have to have either a flat or slightly curved outward bottom and the
2032695 patent number. The 2032695 patent number was placed on the bottom line in mid-1936.
1937-41 ZIPPO MFG. CO. BRADFORD.PA.
ZIPPO
PAT. 2032695 MADE IN U.S.A.
Not Made Yet
Some 1936-40 types have flat bottoms, while other 1938-41 variants have both
corners that are rounded and bottoms that are slightly curved outward.
1942 ZIPPO MFG. CO. BRADFORD.PA.
ZIPPO
PAT. 203695 MADE IN U.S.A.
Not Made Yet
Some 1942 models have the 203695 patent number in lieu of the 2032695 patent number.
1942-45 ZIPPO MFG. CO. BRADFORD.PA.
ZIPPO
PAT. 2032695 MADE IN U.S.A.
Not Made Yet
All true 1943-45 models will have the 2032695 PAT. NUMBER on a steel case. These do not
have canned bottoms. The bottom of the case extends outward, even more profoundly than their
1938-1942 counterparts. These were black crackle WW II models. The word "ZIPPO" and the
type face vary during these years, with some lettering bolder and more rounded.
1946-49 ZIPPO MFG. CO. BRADFORD.PA.
ZIPPO
PAT. 2032695 MADE IN U.S.A.
Not Made Yet
Lighters made from 1946 to date have a canned bottom with the exception of replica lighters.
1946-49 models have a 3-barrel hinge. Spacing of the words, letters and the height of "ZIPPO"
vary during this period.
1949-50 ZIPPO MFG. CO. BRADFORD.PA.
ZIPPO
PAT. 2032695 MADE IN U.S.A.
Not Made Yet
The 1949-50 model has the exact same bottom markings as the 1948-49 model, but
it has a 5-barrel hinge on a chrome plated nickel/silver case.
1951 ZIPPO MFG. CO. BRADFORD.PA.
ZIPPO
PAT. 2032695 MADE IN U.S.A.
Not Made Yet
The 1951 model had three different bottom markings (which cannot be adequately shown here)
The spacing between the words MFG. CO. and BRADFORD vary in relation to the word ZIPPO,
and at times ZIPPO is shorter in height and words are closer together.
1952-53 ZIPPO MFG. CO. BRADFORD.PA.
ZIPPO
PAT. 2032695 MADE IN U.S.A.
Not Made Yet
This model had a 5-barrel chrome plated steel case. There were three bottom variations. The
bottom letterings were alike, but differed as far as the depth of the strike that was made when
stamping it. All the "shorter and more compact" logo.
1953 ZIPPO MFG. CO. BRADFORD.PA.
MADE IN ZIPPO U.S.A.
PAT. 2517191 ® PAT. PEND.
Not Made Yet
This model has the "full stamp" bottom logo on a chrome plated steel case with a 5-barrel hinge.
Early 1953 models had the 2032695 patent number whereas later models had the 2517191 patent
number with the large pat. pending logo that covered most of the bottom of the lighter. In 1953
Zippo started using the registered trademark subscript, ®, as part of the bottom logo.
1954-55 ZIPPO MFG. CO. BRADFORD.PA.
ZIPPO
PAT. 2032695 MADE IN U.S.A.
Not Made Yet
Very similar to the 1953 model except that it has a 5-barrel hinge on a chrome-plated brass case.
Later 1955 models began using the 2517191 patent number.
Year Regular Slim
Mid-1955 Zippo changed the Logo to a stylized "Zorro" script style slanting from lower left
side towards the upper right-hand side. The actual design is not shown in the codes below. Zippo
also began adding coding marks mid-1955. The "dots" on the left and right sides of the
Zippo logo are located near the top of the Zippo logo, but this couldn't be shown.

Left Right Left Right
1955 BRADFORD, PA.
.... ZIPPO ® ....
PAT. 2517191 PAT. PEND.
.... ....
1956 BRADFORD, PA.
... ZIPPO ® ....
PAT. 2517191 PAT. PEND.
.... ....
In 1956, note that one dot has been removed from the left side.
1957 BRADFORD, PA.
.... ZIPPO ® ....
PAT. 2517191
.... ....
For 1957, the left dot has returned, but the "PAT. PEND." logo has been removed.
1958 BRADFORD, PA.
.... ZIPPO ® ....
PAT. 2517191
.... ...
From 1958 to 1967, the patent numbers are centered.
1959 BRADFORD, PA
... ZIPPO ® ....
PAT. 2517191
... ...
This is a true 1959 model, with 3 dots on the left and 4 dots on the right, but there is no PAT. PEND.
on a 1959 model. The 1960-67 models have the 2517191 pat. # centered as well as having the
dots or slashes depending on the year. From now on only the dots or slashes are shown, but the
look is exactly the same in all other ways as above.

Left Right Left Right
1960 ... ... .. ...
1961 ... .. .. ..
1962 .. .. .. .
1963 .. . . .
1964 . . .
1965 .
Zippo put no code on the bottom of a 1965 slim, so that both the regular and slim size
lighters would have the same code from then on.
1966 | | | | | | | | same
1967 | | | | | | | same
1968 | | | | | | same
1969 | | | | | same
Zippo made two changes on the bottom of the cases mid-1969. Zippo used a new press
machine in 1969 which caused the "canned" bottom of the lighter to be more dented in. Also,
at this time, Zippo changed the "Z" logo on the word Zippo and gave the letter "Z" a "tail" hanging
down on the right side. Therefore there are two different logos on a 1969 lighter.
1970 | | | | same
1971 | | | same
1972 | | same
1973 | same
1974 //// //// same
1975 //// /// same
1976 /// /// same
1977 /// // same
1978 // // same
1979 / // same
1979 marked the last year Zippo used the "Zorro" style "Z" on the word Zippo. 1980 marked the
first year of the stylized "Zippo" logo were the letters "Z" and "i" are connected and a flame takes
the place of the "dot" in the letter "i". In addition, the words "Bradford, PA." were moved below
the word Zippo. From 1980 to date Zippo has used many different bottom logos, even for the
same year (although their code system is still accurate).
1980 / / same
1981 / same
1982 \\\\ \\\\ same
1983 \\\\ \\\ same
1984 \\\ \\\ same
1985 \\\ \\ same
1986 \\ \\ same
Effective 7-1-86 the above system was replaced by a YEAR/LOT code. Year is noted
in Roman Numerals whereas Letters designate LOT month (A=Jan., B=Feb., etc.) The LOT
letter designation is to the left of the word Zippo, and the Roman Numeral is to the right.
1986 A to L II same
1987 A to L III same
1988 A to L IV same
1989 A to L V same
1990 A to L VI same
1991 A to L VII same
1992 A to L VIII same
1993 A to L IX same
1994 A to L X same
1995 A to L XI same
1996 A to L XII same
1997 A to L XIII same
1998 A to L XIV same
1999 A to L XV same
2000 A to L XVI same
2001 A to L 01 same
2002 A to L 02 same
2003 A to L 03 same
2004 A to L 04 same
2005 A to L 05 same
2006 A to L 06 same
2007 A to L 07 same