Tìm kiếm blog này

Xảo ngôn, lệnh sắc, tiễn hỉ nhân

Phanblogs Xảo ngôn là người nói khéo, khéo đến mức bạn không bao giờ thấy được lời nói của họ là xảo trá, mà trái lại, họ sẽ cố gắng làm cho bạn tin tưởng họ. Người xảo ngôn cũng là người dẻo miệng, người lúc nào cũng lo trau chuốt sao cho lời nói bóng bẩy, bay bướm. Đó thường là người thiếu thành thật, là người chuộng hình thức và thường tìm mọi cách để che đậy những ý nghĩ xấu xa của mình.


Có một lần “vấp ngã”, tôi được người bạn nhắn tin cho câu thế này: "Xảo ngôn, lệnh sắc, tiễn hỉ nhân". Câu thành ngữ hán việt này có nghĩa nôm na là: Trong những người có lời nói quá khéo léo, tướng mặt hiền lành thì có ít kẻ nhân. Khi nhận được câu nói đó, vừa kịp hiểu nó thì cái sự vấp ngã kia cũng đã rồi. Nhưng câu thành ngữ ấy thì tôi nhớ mãi, và nhớ nhất là hai chữ xảo ngôn.
Thật không may cho những ai sống bên cạnh người có tính xấu thích nói dối. Bản chất sự việc, bản chất con người trắng đen đen trắng không cách nào nhận ra được. Những giá trị đạo đức sẽ đảo lộn!

Xảo ngôn thực sự là gì?

Đức Khổng Tử cũng nói rằng “Xảo ngôn loạn đức”, nghĩa là “Lời nói dối trá làm rối loạn đạo đức”. Thật không may cho những ai sống bên cạnh với những người có tính xấu thích nói dối. Bản chất sự việc, bản chất con người trắng đen đen trắng không cách nào nhận ra được. Những giá trị đạo đức sẽ đảo lộn!
Nhưng bạn đừng lầm lẫn giữa người xảo ngôn với người lịch sự, người xảo ngôn luôn luôn dùng lời nói của mình để làm cái bẫy đối với mọi người, dĩ nhiên trong đó có cả đối tượng mà họ muốn chinh phục, người xảo ngôn bao giờ cũng dùng cái miệng của mình như một vũ khí có lợi cho mình, tất nhiên sẽ có hại cho người khác. Còn người lịch sự, họ rất biết điều, họ tôn trọng mọi người và nói năng tự trọng, khiêm tốn, và họ không dùng ngôn từ để làm tổn hại bất kỳ ai.

Những lời nói dối chân thành


Tôi không chắc rằng không có ai trong suốt cuộc đời chưa từng nói dối. Con người mà, có phải thánh nhân đâu! Nhưng những lời nói dối mà lý do và thông điệp của nó lại mang đến sự an lành vui vẻ như lời bác sĩ Thành buổi sáng hôm đó và của các con cô Hoa, người quen của mẹ tôi thì cả gia đình tôi đều phải nhớ ơn. Lời nói dối khiến nhiều người phải biết ơn như thế đôi lúc cũng rất cần thiết cho cuộc sống này, phải vậy không?
Cách đây hơn 6 năm, mẹ tôi khi ấy bệnh tình đã rất nặng. Bệnh viện Ung Bướu Sài Gòn đã trả mẹ về nhà. Sự sống của mẹ tôi lúc đó chỉ còn được tính bằng ngày, bằng tuần chứ không còn là tháng là năm. Sự đau đớn và lo lắng khiến tất cả những thành viên trong gia đình tôi rơi vào tuyệt vọng. Nhưng chúng tôi quyết định giấu mẹ hồ sơ bệnh án, giấu mẹ tất cả mọi điều có thể làm cho mẹ buồn trong những ngày cuối cùng, trong đó có lý do xuất viện. Đêm trước ngày đưa mẹ quay về nhà sau đợt điều trị dài ngày ở viện không còn nhớ là lần thứ mấy, tôi đã đến tận nhà riêng của bác sĩ Thành, người đã trực tiếp điều trị cho mẹ tôi, nhờ ông sáng hôm sau đến tận giường bệnh của mẹ tôi, để nói với bà rằng bệnh mẹ tôi đã bớt nhiều, rằng mẹ tôi không bị ung thư như chẩn đoán ban đầu mà chỉ bị viêm thận cấp, không cần nằm viện cho ngột ngạt tù túng, về nhà điều trị ngoại trú sẽ tốt hơn…

Nghe những lời nói đó, mẹ tôi trở nên vui vẻ và lạc quan lắm. Cái vẻ thiểu não có phần tuyệt vọng đã ngự trị trên gương mặt bà hơn một năm trời sau ngày nghe tin mình mắc bệnh nan y gần như biết mất. Gia đình tôi, dù rất đau đớn biết thời gian ở bên cạnh mẹ không còn nhiều, nhưng nhìn mẹ vui vẻ trong những ngày cuối cũng thấy lòng ấm hơn. Mẹ tôi về nhà rồi, cứ vài ba ngày lại điện thoại cho một người bạn tên Hoa bà đã thân quen khi đi điều trị tại bệnh viện Ung Bướu để hỏi thăm bệnh tình. Và cũng may thay, gia đình người phụ nữ đó đã chọn một cách nói rất khéo để trả lời mẹ tôi, rằng lúc thì dì Hoa – tên người phụ nữ kia, đang đi du lịch xa, khi thì dì ấy vừa ra khỏi nhà. Thực tế thì người phụ nữ đó đã mất trước mẹ tôi. Nhưng mẹ tôi đinh ninh như vậy, bà cứ tin tưởng rằng không phải ai đã nhập viện ở Ung Bướu đều mắc bệnh ung thư và không thể chữa khỏi.

Lời nói dối - Nguy hiểm hơn lưỡi dao


Với những ai thích đọc sách xưa kiểu như Kim Dung truyện thì chắc chắn đều biết hai chữ thường đi chung với Xảo Ngôn là Gian Kế. Không phải vô tình mà chữ Xảo ấy lại đi liền kề chữ Gian. Và trong trường hợp này, xảo không còn là khéo léo, giỏi giang ở một chừng mực nào cả, nó đã chuyển sang sắc thái của sự dối trá, xảo quyệt. Sự gian xảo trong lời nói đôi khi còn nguy hiểm hơn một lưỡi dao. Bởi những điều lật lọng của cái lưỡi không xương khiến người Tây phương đúc kết ra câu ngạn ngữ “Sự tráo trở còn khó lường hơn một đường đạn”. Tất nhiên khi ra đời, trên bước đường mưu sinh, không ai là chưa từng gặp những kẻ tiểu nhân hay ngụy quân tử. Không ít thì nhiều, bất kỳ người nào cũng đôi lần vấp ngã bởi đã đem niềm tin đặt nhầm chỗ nơi những kẻ xảo ngôn.

Nếu kinh nghiệm sống còn non nớt, sẽ là rất khó để giúp bạn nhận ra kẻ tiểu nhân mang bộ mặt đạo đức hiền hậu luôn nói lời ngon ngọt. Cái mặt nạ kia chỉ rơi xuống khi bạn nhận ra mình vừa sập bẫy. Trước đó, bạn chắc chắn sẽ luôn cảm kích và tràn đầy lòng tin yêu với kẻ luôn ra vẻ coi bạn là người thân, là cánh tay trái cánh tay phải đắc lực… Bạn sẽ không thể mảy may nghi ngờ cái con người thường hay lấy danh dự, tính mạng ra để thề nguyền, để chứng minh cho lòng tốt của họ. Bạn cũng không thể nhìn thấy mặt trái của nụ cười thân thiện, những câu động viên mà chỉ sau khi nhận ra mình đã đưa tay cho quỷ nắm bạn mới biết đấy là những câu nói đểu, bởi họ vẫn cứ cậu cậu tớ tớ nói cười với bạn, vẫn tay trái bấm điện thoại nhắn cho bạn những tin nhắn đầy tình cảm, còn tay phải đưa lưỡi dao đâm xéo sau lưng bạn lúc nào không biết. Bạn sẽ gục ngã mà môi vẫn nở nụ cười với họ - những kẻ xảo ngôn.

Đức Khổng Tử cũng nói rằng “Xảo ngôn loạn đức”, nghĩa là “Lời nói dối trá làm rối loạn đạo đức”. Thật không may cho những ai sống bên cạnh với những người có tính xấu thích nói dối. Bản chất sự việc, bản chất con người trắng đen đen trắng không cách nào nhận ra được. Những giá trị đạo đức sẽ đảo lộn!
Một người chồng hay người vợ nói dối, hôn nhân sẽ không lâu bền. Một người con nói dối, cha mẹ sẽ đau khổ. Nhân viên nói dối, công sở trì trệ, khó phát triển. Một cộng đồng nói dối, xã hội bất hạnh.

Kê toa cho bệnh xảo ngôn


Có ai chưa từng nói dối nhỉ? Bạn có nói dối thường xuyên không? Tại sao bạn nói dối? Bạn nói dối... chuyên nghiệp không? Bạn có ghét nói dối không? Theo tôi, dù nói gì và có nói dối giỏi đến đâu thì sự thật vẫn là sự thật. Không ai nói dối mãi được!
Bàn về các vấn đề nói dối thì khỏi nói rồi, từ sâu xa đến nhỏ nhặt, từ không-thể-không-nói-dối vì một lý do khó nói nào đó cho đến nói dối như cơm bữa, mắt không chớp, mặt tỉnh queo, đến mức không ai có thể nghi ngờ. Tôi đã gặp nhiều người thích nói dối dù đôi khi không đáng, nhưng nếu bảo là bệnh thì họ không chấp nhận. Họ nói đó chỉ là “thói quen”!?

Tôi cũng đã gặp nhiều người ghét cay ghét đắng sự dối trá này, không tha thứ cho bất kỳ sự dối trá nào, dĩ nhiên không cực đoan nhưng rõ ràng là không hài lòng.


Người thành thật ư? Tôi nghĩ họ dũng cảm. Người lớn dạy trẻ con rằng nói dối là xấu, song bản thân họ vẫn nói dối. Trẻ con ấy lớn lên cũng sẽ nói dối, đa phần chẳng cần ai dạy. Còn bài học tuổi thơ, tôi cho rằng chỉ có ý nghĩa là giúp người ta luôn luôn ghi nhớ rằng nói dối là xấu và chỉ nên dùng đến nó khi thật cần thiết mà thôi. Có người bảo do cuộc sống nên người ta không thật thà được. Thật thà là ngáp luôn. Cũng đúng thôi, quy luật mà, khác người thì thường dễ chết lắm. Nói dối nhiều thì thành quen, quen rồi thì thấy bình thường, chả có gì lạ. Có điều, nếu bạn không muốn nói dối thì có Chúa mới ép được.
Theo tôi, xảo ngôn hay nói dối là bệnh trong Tâm. Mà đã là bệnh trong Tâm thì Y học không thể chữa trị, vì chữ BẢN THÂN đã làm mờ cái Tâm. Tâm đã mờ thì Nhân lệch lạc.

con nhà người ta

Phanblogs Kẻ thù truyền kiếp của mọi trẻ em trên thế giới này chính là “con nhà người ta”, một đối thủ bí hiểm không bao giờ dám đối mặt với chúng ta. Hoặc họa may tụi nó chỉ xẹt qua xẹt lại trên mặt báo hay tivi một cách kênh kiệu rồi mất hút.


Nếu đọc đến đây mà bạn vẫn đồng ý với tôi thì hãy tiếp tục đọc. Còn không thì bạn chính là “con nhà người ta”, và tôi dù không biết bạn là ai nhưng nếu cứ tiếp tục nâng cao hình ảnh bản thân để dìm hàng tôi xuống, tôi sẽ tìm ra và truy sát bạn.
Chứ còn sao nữa? Này nhé, để kể cho nghe. Lấy đơn cử là tôi này, tôi của ngày hôm qua xa xôi!

Tối, đang xem “Những cuộc phiêu lưu của Sinbad” thì ba tôi bất ngờ chuyển kênh thời sự. Tình huống này không làm khó được một thần đồng như tôi, vì đã quá quen nên tôi có thể sè sẹ tụt xuống ghế, guồng chân đã chuẩn bị chạy lên lầu để mở cái tivi khác.

- “Ngày hôm nay, tỉnh đoàn đã đến huyện X tỉnh Y để thăm và tặng quà cho các học sinh nghèo vượt khó. Với thành tích học sinh giỏi 5 năm liền…”

Mới nghe thế thôi ba tôi đã lắc đầu:

- Mày xem con nhà người ta kìa, nhà nghèo mà học giỏi lại còn phụ giúp ba má. Còn con nhà này chả được cái tích sự gì…!

Khi ba tôi kết thúc bài than thở bằng một ánh mắt nhìn thằng con như thể ông đang tự hỏi sao mình có thể sinh ra đứa nghịch tử như vậy, thì tôi đã thôi luôn ý định chạy lên lầu.

Tôi tọng cơm vào miệng trong cay đắng, tủi thân tự hỏi tại sao tôi cũng học giỏi 7 năm liền mà ba tôi không buồn nhắc đến.

Đó, mỗi lần “con nhà người ta” xuất hiện thì nó sẽ là một thành công của đấng tạo hóa.



Còn tôi, “con nhà này” đích thị là thất bại của mẹ thiên nhiên.
Những bậc phụ huynh thường xuyên dùng con cái để thực hiện ước mơ mà họ đã bỏ lỡ thời trẻ. Điều này vô tình áp đặt lên chúng, thay vì tìm hiểu xem chúng thích gì.
-họa sỹ Asaf Hanuka

Phan: Bạn là sản phẩm của Ba, Mẹ bạn

Cha và con

Phanblogs John Roberts là thẩm phán cao nhất tại nước Mỹ. Tốt nghiệp đại học Harvard, ông hiện là Chánh án thứ 17 và là Chánh án đương nhiệm của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ. Nhiệm vụ của ông phải luôn là một con người khôn ngoan và rõ ràng phẩm chất đó không chỉ giới hạn trong tòa án.


Gần đây, ông có đến tham dự lễ tốt nghiệp trung học của cậu con trai của mình không phải với tư cách là một chánh án, mà là một vị phụ huynh. Nhưng người cha nào lại chúc con mình bất mình bất hạnh và gặp những điều tồi tệ nhất trong đời?

Khoan hãy gọi ông là "máu lạnh", "độc ác" hay "không biết thương yêu con", hãy nghe những lời lẽ sắc như nhát kiếm nhọn mà ông dành cho bọn trẻ cũng vì mong chúng trưởng thành...nhưng không phải theo cách bao bọc thường thấy ở phụ huynh Việt.

Vị chánh án này nói rằng các bài diễn thuyết trong lễ tốt nghiệp thường tràn ngập những lời chúc tốt đẹp, nhưng ông cho rằng "ta sẽ không làm thế, và ta sẽ nói với các con tại sao"

"Từ giờ về sau, ta hy vọng con sẽ bị đối xử bất công, bởi chỉ có như vậy con mới có thể cảm nhận được giá trị của sự công bằng.


Ta hy vọng con có thể nếm trải một chút mùi vị của sự phản bội, bởi chỉ có như vậy con mới có thể lĩnh hội được tầm quan trọng của sự chân thành.

Xin lỗi phải nói thế này, nhưng ta hy vọng con cảm nhận được sự cô đơn hàng ngày, bởi chỉ có như vậy con mới hiểu được rằng bạn bè không phải là thứ trời cho mà con phải giữ gìn.


Ta hy vọng con có thể gặp xui xẻo liên tục, bởi chỉ có như vậy con mới hiểu được ý nghĩa của may mắn trong đời, hiểu được sự thành công mình có lẽ chỉ là do vận may, và sự thất bại của người khác cũng không phải là đáng đời.

Và khi con gặp thất bại, từ nay về sau còn nhiều, đối thủ của con sẽ châm chọc và cười nhạo trên sự đau khổ của con. Bởi như vậy con mới hiểu có phong độ rốt cuộc quan trọng như thế nào.

Ta hy vọng thi thoảng con bị người khác coi thường, chỉ có như vậy con mới hiểu được học cách tôn trọng và lắng nghe là quan trọng tới mức nào. Và ta cũng hy vọng con sẽ học được đủ đau đớn để học cách cảm thông.


Cho dù ta có hy vọng những điều này hay không thì thật ra sớm muộn gì nó cũng sẽ xảy ra trong cuộc sống của con. Con có thể tiếp thụ giáo huấn hoặc thu hoạch được gì trong đó hay không, đều dựa vào việc con có nhìn thấy những bài học trong khổ đau của mình hay không."


Thành công, ông nhắc nhở lũ trẻ, đến từ những người không biết sợ hãi. "Và nếu các con có thất bại, con đứng dậy và thử lại một lần nữa. Và nếu con lại thất bại, con hãy lại đứng dậy và thử lại lần nữa. Và nếu con có thất bại một lần nữa - đó có thể là lúc hãy suy nghĩ làm một việc gì khác."


Câu chuyện về đầu tư hold to die

Phanblogs Câu chuyện về đầu tư hold to die ICO & Hold To Die – Đáng suy ngẫm cho các nhà đầu tư!


Ngọc tin chắc rằng đọc xong câu chuyện này bạn sẽ từ một người “chơi coin” trở thành một “nhà đầu tư coin ICO” chuyên nghiệp đấy!

Đây cũng là câu chuyện rất hay mà Ngọc sưu tầm được, và trong những ngày qua câu chuyện này đang làm thức tỉnh tất cả những người “chơi coin” tại Việt Nam!

Câu chuyện như sau…

HOLD TO DIE ? Chẳng biết cụm từ này xuất hiện từ lúc nào, nhưng giờ là thuật ngữ khá thông dụng dành riêng cho giới chơi coin (tiền kĩ thuật số) khi nói với nhau về việc đầu tư này nọ.


Chỉ là “Ôm” đến chết (Trữ coin đó đến chết). Hay…Còn là một phạm trù ý nghĩa khác?

Ngày nọ, tui có tiếp chuyện với một vị doanh nhân (D.N) khá thành đạt, các chủ đề trong công việc trao đổi gần xong, bỗng tui thấy ông ta mở Coinstats ra xem gì ấy rồi tắt. Tui ngẫu hứng quá, hỏi luôn:

Tui : Anh có chơi coin à?
D.N : Không em, anh đầu tư từ coin
Tui: Ủa, em thấy cũng vậy mà, khác nhau gì đâu
D.N : (không nói, cười nhẹ!)
Bỗng anh ta hỏi lại tui
D.N : Em có chơi coin không?
Tui : Dạ có anh
D.N : Con gì?
Tui : CMT của CyberMiles anh (Xem thêm CyberMiles là gì ở đây)
D.N : Còn nữa không?
Tui : Dạ còn, nhưng mấy con khác em không “máu lửa” bằng con CMT
D.N : Uhm, con CMT tốt ấy, anh được cu em chia cho gần 1.000 USD CMT. Em bữa mua nhiều không, thế khi nào em bán
Tui : Em mua ít à anh, gần 5.000 USD, hiện tại em chưa bít nhưng có lẽ hơn 1 USD em sẽ bán hết
D.N : Nhiều thế cơ à? Nếu ngày mai, CMT lên hẳn 2 USD em bán ngay không?
Tui : Chời, “xã láng sáng dậy sớm” luôn anh, còn gì bằng, haha!
D.N : Uhm
Tui : Còn anh?
D.N : Không em
Tui: Anh chờ lên 100 USD phải không, Hihi.
D.N : Cũng không em!
Tui : Chứ anh đợi đến khi nào?
D.N : Anh không đợi, anh chỉ muốn thấy khi nào ông CyberMiles thành công thôi
Tui: Ủa kì vậy, là sao em không hiểu?
D.N : Anh nói rồi mà, anh đi đầu tư chứ không phải anh “chơi coin” để nhanh chốt lời, trang trải kiếm “cơm” cho cuộc sống
Tui : ….

Anh ấy hiểu tôi dường như đang suy nghĩ điều gì và nói tiếp:

Nếu như A&E (anh và em) có một công ty tốt, một đội ngũ nhân sự chất lượng. Và một ngày nọ, A&E phát hiện ra một ý tưởng đầy tiềm năng, có thể xây dựng nó thành một sản phẩm hữu ích để ứng dụng trong cuộc sống. Tuy nhiên, A&E không thể phát triển gì được nếu chúng ta không có đủ tiền. Ta sẽ làm gì?

Đi vay ngân hàng, đi mượn anh em bạn bè đúng không? Nhưng cũng nếu không có ai có khả năng cho mình mượn thì sao? Anh nghĩ, hoài bão của A&E rồi sẽ bị lãng quên dần theo thời gian và cũng sẽ không ai biết đến nó.

Nhưng ở thời điểm hiện tại, gọi vốn bằng hình thức ICO – mô hình gọi vốn từ nhà đầu tư lẻ bằng ý tưởng xây dựng sản phẩm ngày càng thông dụng, có thể xem đây là hình thức gọi vốn đầu tư mới, nó đang tạo ra một làn sóng gọi vốn hết sức nhanh và hiệu quả.

Dưới góc nhìn của anh, đây là cuộc cách mạng về hình thức gọi vốn thời 4.0. Tất nhiên, Khi em biết về ICO, đứng trên phương diện nhà gọi vốn chắc chắn em sẽ lao vào để tìm kiếm cơ hội từ các nhà đầu tư lẻ. Vậy:

Nếu như mình cần 10.000.000 USD, mục tiêu ICO đơn giản thôi, mình bán 1USD/coin. Giả sử, sau khi em ICO, mình thu về 10.000.000 triệu USD. Lộ trình phát triển xây dựng sản phẩm của A&E mình là 12 tháng thì sản phẩm thành công, nếu không có gì trục trặc giữa chừng về mọi thứ.

Tui: OK anh, em hiểu… rồi sao?
Anh nói tiếp:

Chuyện gì sẽ xảy ra, nếu trong thời gian đó, nhiều nhà đầu tư không kiên nhẫn chờ đợi được sự thành công của sản phẩm và họ bắt đầu đem bán hết số coin họ đã mua được từ ICO.

Giá coin ICO là 1USD/Coin, anh đem bán 1 USD trên sàn chờ nhà đầu tư khác (nhà đầu tư mới) mua nếu họ cũng thấy coin của A&E tiềm năng. Nhiều người không chờ được cũng đem bán, họ muốn bán nhanh hơn mình nên họ đặt giá theo kiểu “ks” lẫn nhau, 0.9 rồi 0.8 để mong được bán sớm nhất.

Và cứ như thế, nếu sản phẩm của em chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư khác trong quá trình xây dựng. Việc này cũng đồng nghĩa với việc coin của em cũng được ít nhà đầu tư mới chú ý và tìm để mua.

1 USD -> 0.9 -> 0.8 -> 0.7 ———> 0.0 thì chuyện gì xảy ra?

Coin hoàn toàn mất giá trị, dân chơi coin sẽ bảo A&E mình là kẻ lừa đảo? Làm ICO chỉ để kiếm tiền, trục lợi rồi để cho coin scam…Từ đây, cuộc đời A&E sẽ có thêm biệt danh mới: Cam & Quýt – đi lừa thiên hạ!



Vậy mình phải đối phó làm sao khi ai cũng ồ ạt chốt lời hoặc bán ra để mong bình ổn giá? Có phải chúng ta sẽ dùng tiền gọi vốn lúc ICO được để mua lại phần lớn coin của nhà đầu tư thiếu kiên nhẫn hoặc họ nhu cầu khác phải bán để chống giá không?

Kết quả ra sao nếu như, 10.000.000 USD chúng ta đem chống giá hết 8.000.000 USD và còn lại 2.000.000 USD.

Quay lại lúc ban đầu, A&E hy vọng gọi được 10 triệu để xây dựng sản phẩm thành công trong 1 năm. Giờ chỉ còn 2 triệu, vậy khi nào mới xong hoặc với số tiền sau khi “chống giá”, chúng ta sẽ mãi mãi không thể thành công?

Cuối cùng chúng ta đều phải mang cái mác CAM & QUÝT (thuật ngữ Scam – lừa đảo) nếu không xây dựng sản phẩm thành công để tạo ra giá trị cho đồng coin giúp nhà đầu tư sau này bán lại kiếm lời.

Nếu như ai cũng như ai, đều nói là đi đầu tư ICO nhưng cứ canh có lời là chốt và bán ngay. Vậy nhà phát hành coin sẽ ra sao khi họ chỉ vừa cầm tiền sau khi ICO mà chưa kịp làm gì để xây dựng sản phẩm?

Việt Nam mình ấy em, vừa được thế giới vinh danh luôn cơ đấy. Có vài quốc gia cấm người Việt mua ICO. Nó thấy IP người Việt mình mua ICO là tụi nó run như “cầy sấy” ấy.


Em biết vì sao rùi chứ? Thế nên với anh, coin CMT hoặc bất kì con coin nào anh mua để đầu tư, anh dường như không nghĩ đến chuyện buôn hay bán. Anh sẽ bán nhưng lúc đó cũng là lúc sản phẩm đã thành công và được ứng dụng rộng rãi trong xã hội. Đó cũng là cách anh thể hiện sự tôn trọng của anh dành cho đối tác (nhà phát hành coin ICO).

Sống chết cùng đối tác, cùng sản phẩm đến khi có kết quả cuối cùng!. & nếu như họ thành công, tới lúc anh mà bán, có lẽ 1.000 USD của anh sẽ gấp 100 lần 5.000 USD của em hiện tại.

Em phải hiểu là, coin được sinh ra và được xem như là phương tiện giao dịch chứ nó chẳng có giá trị nào khi xét về góc độ kinh tế. Giá trị một đồng coin phụ thuộc vào giá trị sản phẩm của nhà phát hành coin, luôn luôn và mãi mãi là như thế.

Cái em nên quan tâm là, khi đi đầu tư coin thì em phải biết được công ty đó sau khi ICO họ đã làm gì, lộ trình phát triên sản phẩm có ổn không, sản phẩm đó đã làm tới đâu rồi, nó đang được người tiêu dùng đánh giá ra sao… chứ đừng lên coi giá nó mỗi khi rảnh tay.

Điều đó sẽ làm em tốn thời gian, giảm sức tập trung cho những việc khác, chưa kể nó sẽ ảnh hưởng đến tâm lý và thần thái của em trong cuộc sống.

Chung quy lại, khi sản phẩm đã thành công và được đón nhận vào cuộc sống thì em bán giờ nào cũng được, mọi lúc mọi nơi. Canh giá chỉ là lòng ham muốn nhiều hơn về vật chất chứ không phải là giá trị nhân văn của một người đi đầu tư mạo hiểm ICO.


Khi nghe tới đây, tui dường như đã hiểu anh muốn nói gì, truyền tải thông điệp gì cho tôi!
Kết:
1> Tui đã sai
2> Trước giờ tui đi kiếm tiền từ ICO chứ không phải đi đầu tư ICO
3> Tui cảm thấy mình không tôn trọng đối tác, chỉ là kẻ lợi dụng ICO – lợi dụng chất xám của người khác để kiếm tiền
4> Hold to die – một phạm trù riêng cho mỗi người nhưng hiểu cho hết nghĩa thì bao gồm cả một sự nhân văn của con người dành cho con người trong cuộc sống
5> Làm một nhà đầu tư ICO chân chính quả thật rất khó
6> Đừng như tôi
7> Làm lại từ đầu

Câu chuyện được chia sẻ bởi Lại Hiếu  edit by Nguyễn Anh Ngọc

https://phanblogs.blogspot.com/2018/01/nguong-cua-long-tham.html


Ngưỡng của lòng tham

Phanblogs Ở đó, tôi được chứng kiến sự biến động rất mạnh của đồng tiền và học được nhiều kinh nghiệm. Biến động thị trường có những lúc rất mạnh đòi hỏi phải luôn giữ được cái đầu lạnh để ra các quyết định nhanh chóng trong vài giây nhưng phải có độ chính xác cao. Khi mắc sai lầm trong giao dịch - điều xảy ra khá thường xuyên trong giai đoạn đầu - phải thẳng thắn thừa nhận sai lầm của mình với ngân hàng ngay lập tức và tìm cách khắc phục. Bất kỳ sai lầm nào, dù chỉ một mình mình biết mà không được giải quyết ngay, đều có hậu quả, và sẽ tốn công sức gấp nhiều lần để giải quyết các sai lầm sau đó nữa. 



Phạm Hồng Hải Tổng giám đốc, HSBC Việt Nam


Vào giai đoạn khủng hoảng tài chính châu Á những năm 1997 - 1998, tôi may mắn tham gia thị trường kinh doanh tiền tệ và ngoại hối.

Ở đó, tôi được chứng kiến sự biến động rất mạnh của đồng tiền và học được nhiều kinh nghiệm. Biến động thị trường có những lúc rất mạnh đòi hỏi phải luôn giữ được cái đầu lạnh để ra các quyết định nhanh chóng trong vài giây nhưng phải có độ chính xác cao. Khi mắc sai lầm trong giao dịch - điều xảy ra khá thường xuyên trong giai đoạn đầu - phải thẳng thắn thừa nhận sai lầm của mình với ngân hàng ngay lập tức và tìm cách khắc phục. Bất kỳ sai lầm nào, dù chỉ một mình mình biết mà không được giải quyết ngay, đều có hậu quả, và sẽ tốn công sức gấp nhiều lần để giải quyết các sai lầm sau đó nữa.

Nghề kinh doanh ngoại tệ và vốn - còn được gọi là nghề buôn tiền - đòi hỏi một nguyên tắc: biết dừng lại ở ngưỡng cho phép.

Người giao dịch viên lập lệnh mua, bán ngoại tệ hàng ngày thường được ngân hàng cấp một hạn mức chốt lỗ và không được vượt quá giới hạn này. Làm được điều này đòi hỏi tính kỷ luật và trách nhiệm rất cao. Khi giao dịch rơi vào trạng thái lỗ, người giao dịch thường có tâm lý không muốn “đóng trạng thái” để chấp nhận lỗ mà nấn ná, đợi thị trường sẽ xoay chiều, tức tỷ giá sẽ biến động theo hướng có lợi cho mình. Nhiều trường hợp đáng ra cần đóng trạng thái ngay, giao dịch viên lại tiếp tục mua, bán theo dự đoán của mình để kỳ vọng giảm lỗ. Sự “bám víu” vào thị trường khi đó có thể dẫn tới những khoản lỗ lớn hơn, rất dễ vượt ngưỡng cho phép.

Một số giao dịch viên sau đó bị rơi vào tâm lý sợ hãi. Họ tìm cách giấu lỗ, tiếp tục hy vọng giá cả các đồng tiền trên thị trường đảo chiều để khoản lỗ đó không còn. Sự sụp đổ của ngân hàng Barings và việc ngân hàng Société Générale lỗ hàng tỷ USD do giao dịch viên giấu lỗ và có các giao dịch gian lận vào năm 2008 đều xuất phát từ tâm lý sợ hãi này.

Ở chiều đối lập khác, giao dịch viên có lúc rơi vào tâm lý “tham lam” khi giao dịch của mình đang lãi. Họ tiếp tục gia tăng khối lượng giao dịch với hy vọng kiếm lời nhiều hơn. Mải đuổi theo lợi nhuận, đến khi thị trường đảo chiều, giao dịch viên không kịp “đóng trạng thái”, khoản lời ngay lập tức có thể biến mất hoặc chuyển sang trạng thái lỗ.

Lòng tham và sự sợ hãi luôn là hai con sói nấp trong mỗi người. Chúng ta thường thấy khi giá cổ phiếu hoặc bất động sản tăng, người ta tham hơn, tranh nhau nhảy vào thị trường để mua, từ đó giá tiếp tục được đẩy lên.


Ngược lại, khi thị trường rớt giá, mọi người rơi vào trạng thái sợ hãi, đồng loạt bán ra. Điều này thoạt nghe phi lý bởi chúng ta đang cố mua đắt và bán rẻ. Tuy nhiên, con người thường sẽ hành động theo cảm tính thay vì lý tính khi rối trí. Quan trọng nhất lúc đó, là ta có quản lý được lòng tham hay vượt qua sự sợ hãi của chính mình không.


Lòng tham, sự sợ hãi đều ảnh hưởng tới cá nhân nhà đầu tư tài chính, hay tổ chức mà anh ta đang làm việc. Ở mức độ rộng hơn, các vụ việc tham nhũng, hối lộ được đưa ra ánh sáng công lý gần đây cũng đều xuất phát từ lòng tham, nhưng phạm vi ảnh hưởng của chúng không dừng lại ở tổ chức hay cá nhân nữa. Đa phần (nếu không nói là tất cả) những người nhận hối lộ, tham nhũng hoặc cố tình vi phạm các nguyên tắc tín dụng không hề nghèo. Thậm chí, họ giàu và rất giàu. Tuy nhiên, do lòng tham cố hữu của con người, họ có khuynh hướng tiếp tục hành động của mình. “Điểm mù” của lòng tham đã che mắt khiến họ không nhận ra lằn ranh - ngưỡng của lòng tham - nơi mình cần dừng lại.

Tuần này, công chúng dõi theo những vụ án lớn trong ngành ngân hàng được xét xử. Ngân hàng là ngành kinh doanh rủi ro. Người làm nghề ngân hàng mỗi ngày đối mặt với rất nhiều bất trắc trong công việc. Do tiếp xúc thường xuyên với rất nhiều tiền, họ cần luôn giữ mình để không bị cám dỗ bởi chính đồng tiền đó, giữ cho cái đầu lạnh để biết đâu là lằn ranh mỏng manh giữa cái đúng và cái sai; giữ trái tim nóng để đóng góp cho ngân hàng và xã hội.

Mặc dù có một số vụ việc đáng buồn gần đây liên quan đến một vài ngân hàng, tôi vẫn đang nhìn thấy và tin rằng đa số những đồng nghiệp của tôi, những người đang làm việc trong các nhà băng vẫn nỗ lực để làm điều đúng mỗi ngày. 

Với người dân, theo dõi các phiên tòa là cơ hội để hiểu đúng hơn về nghề ngân hàng. Rằng một quyết định sai lầm của người làm nghề có thể gây những khoản lỗ lớn cho ngân hàng và ảnh hưởng nặng nề đến sự nghiệp của chính họ như thế nào. Để hiểu ra, ngân hàng thực sự là nghề nhiều thách thức chứ không phải dễ kiếm tiền, làm giàu như trở bàn tay.

Tôi tin luật nhân quả của đạo Phật cũng đúng trong nghề tài chính hay chốn công quyền. Con người chỉ nên hưởng những gì đúng với sức lao động của mình. Nếu mình cố gắng vơ vét càng nhiều càng tốt và gây hại cho người khác, hậu quả chắc chắn sẽ đến vào lúc này hoặc lúc khác.
Biết được đâu là lằn ranh an toàn để quản lý được lòng tham và vượt qua sự sợ hãi là kỹ năng quan trọng để chúng ta sống một cuộc đời đáng sống; làm được những việc đáng làm.


Phạm Hồng Hải

http://phanblogs.blogspot.com/2018/01/cau-chuyen-ve-au-tu-hold-to-die.html






Chết vào thân trung ấm và tái sinh theo Phật giáo Tây tạng

phanblogs có 49 ngày thân trung ấm không?  Lời thưa: Câu hỏi của số đông phật tử tu tập theo truyền thống Bắc tông, là “Khi người thân qua đời phải mời quý thầy đến làm lễ phát tang, nhập liệm, cúng cơm rồi cúng tuần, cúng 49 ngày, 100 ngày để siêu độ vong linh – như thế có đúng không thưa thầy? Và theo Nam truyền thì nghi thức cúng kiếng ấy ra sao?”


thân trung ấm 


Chủ đề này nói theo ngôn ngữ hiện nay là quá “nhạy cảm”; nhưng vì có quá nhiều người hỏi nên tôi chẳng đặng đừng. Tôi đã có dự định không viết nữa, không trả lời gì nữa sau bài trả lời số 9, tuy nhiên do tâm nguyện tha thiết của nhiều người học Phật muốn biết rõ về quan niệm ấy theo Phật giáo Nam tông nên tôi lại phải múa bút và tôi cũng sẵn sàng nhận chịu những phản hồi không đồng quan điểm.

Muốn trả lời trọn vẹn, đầy đủ và rõ ràng, chủ đề này tôi sẽ trình tự đi theo ba bước:

- Nguồn gốc (xuất xứ) 49 ngày & thân trung ấm.
- Hiện tượng chết và tái sanh.
- Nghi thức thiết lễ và “cầu siêu” theo truyền thống Nam tạng.

I- Nguồn gốc (xuất xứ) 49 ngày & thân trung ấm.


1- Manh nha từ thế kỷ I, II sau Phật Niết-bàn, đến kỳ kết tập Phật ngôn lần thứ ba, khoảng 216 năm thời đại đế Asoka thì Phật giáo Ấn Độ đã phát sanh nhiều học phái, chia làm 2 nhóm:

- 11 học phái được tách ra từ Theravāda.
- 16-18 học phái cải cách có khuynh hướng đại chúng, gọi là Đại chúng bộ.

Trong 26-28 học phái này thì chỉ có Tuyết Sơn bộ (Hemavantavāda) và phái Hoá Địa bộ (Mahisāsakavāda) thuộc nhóm thứ nhất là có quan niệm về thân trung ấm, được xem là sớm nhất. Và thân trung ấm thời này có tên là Antarabhava. Antara là khoảng giữa, ở giữa, chỗ lưng chừng; còn bhava là hữu, là có, là tồn tại – có nghĩa là “tồn tại ở khoảng giữa, chỗ lưng chừng!” . Lưu ý ở đây là không có từ ấm. Ấm hay uẩn là được dịch từ khandha, cái che đậy, cái che lấp, cái chồng chất làm cho chúng sanh không thấy được cái thực, cái sự thực, cái chân lý (còn có nghĩa là nhóm, tích chứa). Vậy, ấm này cũng là “hậu tác” để thích dụng cho ngữ cảnh, ngữ nghĩa nào đó mà người ta muốn “lập tri”.

2- Tìm thấy thân trung ấm ở trong Đại tỳ-bà-sa luận: Luận này là của Long Thọ, được trước tác khoảng chừng thể kỷ thú I TL.

Luận này dạy Bồ-tát niệm Phật A Di Đà cầu vãng sanh về thế giới Cực lạc, dạy phương pháp sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỉ và hồi hướng để được vào địa vị Bất thối. Đây là cách thức, không chỉ sơ tâm Bồ-tát mà cả phàm phu, ai cũng làm được mà đạt kết quả cao! Có những câu khinh chê Thanh Văn, Duyên Giác đến tận đáy địa ngục: “Rơi vào địa ngục không đáng sợ bằng rơi vào hàng Nhị thừa!”. Đọc ở đâu cũng không thấy tu tập định tuệ mà chỗ nào cũng nói đến tha lực, oai lực siêu nhiên; chỗ nào cũng lễ lạy, xưng tán hồng danh Phật này, Bồ-tát kia (có cả nhiều trang tên Phật, tên Bồ-tát) là có thể có tất cả trí tuệ, công đức, phước báu vô lượng!

(Người ta cũng nói thân trung ấm ở trong Đại thừa nghĩa chương, ở trong luận Câu Xá, ở trong luận Tỳ-bà-sa của Thế Hữu - nhưng người viết chưa có thì giờ nghiên tầm).

3- Tìm thấy dấu ấn rõ ràng nhất là ở trong Tử thư Tây tạng, khoảng thế kỷ thứ 14, được cho là do tổ Liên Hoa Sinh thuyết giảng hoặc tâm truyền. Đây được xem là những khai thị cho những người sắp chết.

Tôi đọc được ở trang Wikipedia:

“Giai đoạn của cái chết được chia làm ba phần, liên hệ chặt chẽ với Tam thân Phật:

- Trong giai đoạn đầu ngay sau khi chết, Pháp thân (sa. dharmakāya) xuất hiện dưới dạng Tịnh quang (sa. ābhāsvara), ánh sáng rực rỡ;

- Trong giai đoạn hai, Báo thân (cũng gọi là Thụ dụng thân, sa. saṃbhogakāya) xuất hiện dưới dạng Ngũ Như Lai hay Phật gia (sa. buddhakula), gồm hình dáng các vị Phật với những màu sắc khác nhau;

- Trong giai đoạn ba, Ứng thân (sa. nirmāṇakāya) xuất hiện dưới dạng sáu đường tái sinh (Lục đạo) của Dục giới (Vòng sinh tử, sa. bhavacakra).

Trong cả ba giai đoạn đó, thần thức của người chết có thể đạt giải thoát bằng cách lắng nghe lời khai thị để nhận ra tất cả là do tâm thức mình đang chiếu hiện mà nhờ vậy đạt Niết-bàn”.

Thật lạ lùng và cũng thật là “bí diệu” thay! Có thể dẫn dắt thần thức đến chỗ giải thoát, Niết-bàn - chẳng cần công phu hành đạo, chẳng cần tu tập giới định tuệ gì cả, khoẻ re!

4- Và cuối cùng, thân trung ấm được Trung Quốc và Việt Nam tiếp thu, lan tràn khắp nơi là do kinh Điạ Tạng.

Bộ kinh nầy, toàn bộ nội dung là khen ngợi, xưng tán danh hiệu Bồ-tát Địa Tạng. Và chỉ cần như vậy thôi sẽ “có được” tất cả sở cầu, sở nguyện như ý!

Ta hãy cùng xem khen ngợi, xưng tán như thế nào?


- Về đời sau, nếu có trang thiện nam, người thiện nữ nào nghe danh tự của Địa-Tạng Bồ-tát, hoặc khen ngợi, hoặc chiêm ngưỡng vái lạy, hoặc xưng danh hiệu, hoặc cúng dường, nhẫn đến vẽ, khắc, đắp, sơn hình tượng của Địa-Tạng Bồ-tát, thời người đó sẽ được một trăm lần sanh lên cõi Trời Đao Lợi, vĩnh viễn chẳng còn bị sa đọa vào chốn ác đạo.

- Trong đời sau, như có chúng-sanh không làm lành, mà làm ác, nhẫn đến kẻ chẳng tin luật nhơn quả, kẻ tà dâm, vọng ngữ, kẻ lưỡng thiệt, ác khẩu, kẻ hủy báng Đại Thừa. Những chúng-sanh có tội nghiệp như thế chắc phải bị đọa vào ác đạo. Nếu gặp được hàng Thiện-tri-thức khuyên bảo quy y với Ngài Địa-Tạng Bồ-tát chừng trong khoảng khảy móng tay, những chúng-sanh đó liền đặng thoát khỏi báo khổ nơi ba ác đạo.

- Như có kẻ thiện nam hay người thiện nữ nào hoặc là họa vẽ hình tượng của Ngài Địa-Tạng Bồ-tát rồi chừng một lần chiêm ngưỡng, một lần đảnh lễ, người đó sẽ được sanh lên cõi Trời Đao Lợi một trăm lần, không còn phải bị sa đọa vào ác đạo nữa.

- Nếu có người nữ nào chán thân xấu xí và nhiều bịnh tật, đến nơi trước tượng của Ngài Địa-Tạng Bồ-tát chí tâm chiêm ngưỡng đảnh lễ chừng trong khoảng một bữa ăn, người nữ đó trong nghìn vạn kiếp thọ sanh được thân hình tướng mạo xinh đẹp không có bịnh tật. Người nữ xấu xí đó nếu không nhàm thân gái, thời trăm nghìn muôn ức đời thường làm con gái nhà Vua cho đến làm Vương Phi, dòng dõi nhà quan lớn cùng con gái các vị đại Trưởng Giả, tướng mạo đoan trang xinh đẹp...

- Như có người thiện nam, người thiện nữ nào có thể đối trước tượng của Địa-Tạng Bồ-tát mà trổi các thứ kỹ nhạc, ngâm ca khen ngợi, dùng hương hoa cúng dường, cho đến khuyến hóa được một người hay nhiều người. Những hạng người đó ở trong đời hiện tại cùng thuở vị lai sau, thường được trăm nghìn vị Quỉ Thần ngày đêm theo hộ vệ còn không cho những việc hung dữ đến tai người đó, huống là để cho người đó phải chịu các tai vạ bất ngờ!

- Giả sử như thần thức của người bịnh đã phân tán đến hơi thở đã dứt, thời hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày cho đến bảy ngày, cứ lớn tiếng xướng bạch và lớn tiếng tụng kinh nầy. Sau khi người bịnh đó mạng chung thời dầu cho từ trước có tội vạ nặng, nhẫn đến năm tội vô gián, cũng được thoát khỏi hẳn, thọ sanh vào đâu cũng thường nhớ biết việc đời trước. Huống nữa là người thiện nam, người thiện nữ nào tự mình biên chép Kinh nầy, hoặc bảo người biên chép, hoặc tự mình đắp vẽ hình tượng của Bồ-tát, cho đến bảo người khác vẽ đắp, người đó khi thọ quả báo chắc đặng nhiều lợi lớn.

- Như đời sau nầy có những hạng người hạ tiện, hoặc tớ trai, hoặc tớ gái nhẫn đến những kẻ không được quyền tự do, rõ biết là do tội nghiệp đời trước gây ra cần phải sám hối đó, thời nên chí tâm chiêm ngưỡng đảnh lễ hình tượng của Ngài Địa-Tạng Bồ-tát. Rồi trong bảy ngày niệm danh hiệu của Ngài Địa-Tạng Bồ-tát đủ một muôn biến. Những người trên đó sau khi mãn báo thân hạ tiện ở hiện đời, trong nghìn muôn đời về sau thường sanh vào bực tôn quí, trọn không bao giờ còn phải sa đọa vào ba đường ác khổ nữa.

- Vì thế [nên, nếu ông thấy có người nào đọc] tụng Kinh nầy, cho đến chỉ trong một niệm ngợi khen Kinh nầy, hoặc là có lòng cung kính đối với Kinh, thời ông cần phải dùng trăm nghìn phương chước khuyến hóa người đó, phát lòng siêng năng chớ đừng thối thất, thời có thể được trăm nghìn muôn ức công đức không thể nghĩ bàn ở hiện tại và vị lai.

- Như có người nam người nữ nào nghe danh hiệu của đức Phật đây mà tạm thời sanh lòng cung kính, liền đặng siêu việt tội nặng sanh tử trong bốn mươi kiếp, huống là vẽ đắp hình tượng cúng dường tán thán! Người nầy được vô lượng vô biên phước lợi.

- Như có người nam người nữ nào được nghe danh hiệu của đức Phật đây, phát tâm quy y với Phật trong khoảng khảy móng tay, người nầy trọn hẳn không còn thối chuyển nơi đạo vô thượng chánh giác.

- Trong đời sau, như kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp Kinh điển đại thừa hoặc nghe thấy một bài kệ, một câu Kinh, rồi phát tâm ân cần trân trọng cung kính ngợi khen, bố thí cúng dường, người ấy được quả báo lớn vô lượng vô biên. Nếu có thể đem phước đức hồi hướng cho khắp pháp giới chúng-sanh thời phước lợi nầy không thể ví dụ thế nào cho được.

- Trong đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp chùa tháp và Kinh điển đại thừa, nếu là Kinh tháp mới thời bố thí cúng dường, chiêm ngưỡng lễ lạy ngợi khen chắp tay cung kính. Nếu gặp Kinh tháp cũ, hoặc hư rách thời sửa sang tu bổ, hoặc riêng mình phát tâm làm, hoặc khuyến người khác cùng đồng phát tâm. Những người đồng phát tâm đây, trong ba mươi đời thường làm vua các nước nhỏ. Còn vị đàn-việt chánh đó thường làm vua Chuyển Luân, lại dùng pháp lành mà giáo hóa vua các nước nhỏ.

- Trong đời sau, như có người thiện nam kẻ thiện nữ nào ở nơi cội phước lành đã gieo trồng trong Phật Pháp, hoặc là bố thí cúng dường, hoặc là tu bổ chùa tháp, hoặc sửa sang Kinh điển, cho đến chừng bằng một sợi lông, một mảy bụi, một hột cát, một giọt nước. Những sự lành như thế không luận là nhiều ít, chỉ có thể đem hồi hướng cho khắp pháp giới chúng-sanh, thời công đức của người đó trong trăm nghìn đời thường hưởng thọ sự vui thượng diệu. Còn như chỉ hồi hướng cho thân quyến trong nhà hoặc tự mình được lợi ích thôi, như thế thời sẽ hưởng quả vui trong ba đời, cứ làm một phần sự lành, thời được hưởng báo tốt một muôn lần trội hơn.

Đấy là “khen”, còn “chê” thì chết:


- Trong đời sau, như có người ác và ác thần, ác quỉ nào thấy kẻ thiện nam, người thiện nữ quy y cung kính, cúng dường ngợi khen chiêm ngưỡng đảnh lễ hình tượng của Ngài Địa-Tạng Bồ-tát, mà vọng sanh khinh chê là không có công đức cùng không có sự lợi ích, hoặc nhăn răng ra cười, hoặc chê sau lưng hay chê trước mặt, hoặc khuyên bảo người khác cùng chê, hoặc khuyên bảo một người cùng chê hay nhiều người cùng chê, cho đến sanh lòng chê bai trong chừng một niệm. Thời những kẻ như thế đến sau khi một nghìn đức Phật trong hiện kiếp nhập diệt cả, bị tội báo khinh chê nên còn ở trong địa ngục A Tỳ chịu tội khổ rất nặng.

Nói về lâm chung và 49 ngày:

- Chúng-sanh trong cõi Diêm-Phù-Đề nầy có nhơn duyên lớn với ngài Địa-Tạng Đại-sĩ. Những chúng-sanh đó hoặc được nghe danh hiệu của Địa-Tạng Bồ-tát, hoặc được thấy hình tượng của Địa-Tạng Bồ-tát, cho đến nghe chừng ba chữ hay năm chữ trong Kinh nầy, hoặc một bài kệ hay một câu, thời những người đó hưởng sự an vui lạ thường trong đời hiện tại, trăm nghìn muôn đời về vị lai thường được thác sanh vào nhà tôn quí, thân hình xinh đẹp. Như sau khi người đã chết, lại có thể trong bốn mươi chín ngày vì người ấy mà tu tạo nhiều phước lành, thời có thể làm cho người chết đó khỏi hẳn chốn ác đạo, được sanh lên cõi Trời hoặc trong loài người hưởng lấy nhiều sự rất vui sướng, mà kẻ thân quyến hiện tại đó cũng được vô lượng điều lợi ích.

- Giả sử người chết đó hoặc là đời trước hay đời hiện tại vừa rồi, đã chứng đặng phần Thánh quả, sẽ sanh vào cõi Trời, cõi người, nhưng bị vì lúc lâm chung, hàng thân thuộc gây tạo những nghiệp nhơn không lành, cũng làm cho người chết đó mắc lấy ương lụy phải đối biện, chậm sanh vào chốn lành. Nầy ông Trưởng Giả! Những chúng-sanh ở hiện tại hay vị lai, lúc sắp mạng chung mà nghe đặng danh hiệu của một đức Phật, danh hiệu của một vị Bồ-tát hay danh hiệu của một vị Bích Chi Phật, thời không luận là có tội cùng không tội đều được giải thoát cả.

- Thần hồn người chết đó khi chưa được thọ sanh, ở trong bốn mươi chín ngày luôn luôn trông ngóng hàng cốt nhục thân quyến tu tạo phước lành để cứu vớt cho. Qua khỏi bốn mươi chín ngày thời cứ theo nghiệp mà thọ lấy quả báo. Người chết đó nếu là kẻ có tội, thời trải qua trong trăm nghìn năm không có ngày nào được thoát khỏi.

- Hàng thân quyến của người lâm chung đó, nên phải sắm sửa làm sự cúng dường lớn, tụng đọc Tôn Kinh, niệm danh hiệu của Phật và Bồ-tát, tu tạo nhơn duyên phúc lành như thế, có thể cho người chết thoát khỏi chốn ác đạo, các thứ ma, quỉ, ác thần thảy đều phải lui tan cả hết.

- Tất cả chúng-sanh lúc lâm chung nếu đặng nghe danh hiệu của một đức Phật, danh hiệu của một Bồ-tát, hoặc một câu, một bài kệ Kinh điển đại thừa, con xem xét thấy hạng người ấy, trừ năm tội Vô-gián cùng tội sát hại, những nghiệp ác nho nhỏ đáng lẽ phải sa vào chốn ác đạo, liền đặng thoát khỏi cả.

- Vì thế nên những chúng-sanh trong cõi Diêm Phù, sau khi cha mẹ hay người thân quyến chết, nếu có thể làm chay cúng dường, chí tâm cầu khẩn thời những người như thế, kẻ còn người mất đều đặng lợi ích cả.

- Trong cõi Diêm-Phù-Đề, những người làm lành đến lúc mạng chung cũng còn có trăm nghìn quỉ thần ác đạo hoặc biến ra hình cha mẹ, nhẫn đến hóa làm người thân quyến dắt dẫn thần hồn người chết đi cho đọa lạc vào chốn ác đạo, huống chi là những kẻ lúc sanh tiền đã sẵn tạo nghiệp ác.

- Trong các thế-giới về thuở hiện tại nay và vị lai sau, những hàng chúng-sanh trong sáu đường, như có kẻ sắp mạng chung mà đặng nghe một tiếng danh hiệu của Ngài Địa-Tạng Bồ-tát thoáng qua lỗ tai, thời kẻ mạng chung đó không còn bị đọa vào chốn khổ ba ác đạo. Huống chi là lúc sắp mạng chung, cha mẹ cùng hàng thân quyến đem của cải nhà cửa, vật báu, y phục vân vân ... của người sắp mạng chung đó mà làm của chi phí để tô đắp hay họa vẽ hình tượng của Ngài Địa Tạng Bồ-tát. Rồi làm cho người bịnh lúc chưa chết, hoặc mắt thấy tai nghe biết rằng hàng thân quyến đem nhà cửa vật báu vân vân ... vì mình mà tô vẽ hình tượng của Ngài Địa-Tạng Bồ-tát. Người bịnh đó nếu có nghiệp báo phải mang lấy bịnh nặng, thời nhờ công đức này liền được lành mạnh, tuổi thọ thêm lâu. Còn nếu người bịnh đó có nghiệp báo số mạng đã hết, lại có đủ tất cả tội chướng, nghiệp chướng, đáng lẽ phải bị đọa vào chốn ác đạo, song vì nhờ công đức này nên sau khi mạng chung, liền được sanh vào cõi trời, cõi người, hưởng quả vui thù thắng vi diệu, tất cả tội chướng thảy đều tiêu sạch.

Lược dẫn như vậy thiết nghĩ là quá đủ rồi. Bậc trí có thể tin một loại được gọi là kinh như thế hay chăng? Tôi có thể khẳng định, và “sẵn sàng đi địa ngục Vô gián” để nói rằng, kinh này không những là “hậu tác” mà còn là “nguỵ tác”, đã rất thâm độc, đã đưa một đạo Phật trí tuệ đoạn lìa tham sân phiền não xuống ngang hàng với những loại tín ngưỡng dân gian đầy mê tín, tối tăm và ngu muội. Chỉ cần khen ngợi, chỉ cần một câu một chữ kinh này, chẳng cần tu tập gì cả, kẻ ác cũng được vô lượng công đức, phước báu hay sao???



II- Hiện tượng chết và tái sanh


Về phần này sẽ có những tương quan liên hệ sau đây:

- Những nguyên nhân của sự chết.
- Những hiện tượng của nghiệp phát sanh trước khi chết.
- Lộ trình tâm của người sắp chết.
- Dòng tâm thức tái sanh.

1- Những nguyên nhân của sự chết


Chết là sự chấm dứt tạm thời của một hiện tượng tạm thời. Chết không phải là đoạn diệt hẳn, chết tại chỗ này nghĩa là sanh tại chỗ khác, như mặt trời lặn ở chỗ này nhưng lại mọc ở chỗ khác.

Chết, có nghĩa là chấm dứt mạng căn (jīvitindriya), sức nóng (tejodhātu) và thức (viññāṇa) của một chúng sanh.

Như vậy, chết có 4 nguyên nhân sau đây:

- Sự chấm dứt của tuổi thọ.
- Sự chấm dứt của nghiệp.
- Tuổi thọ và nghiệp cùng chấm dứt.
- Do sự xen vào của đoạn nghiệp.

1.1-Sự chấm dứt của tuổi thọ

Cái mà chúng ta thường hiểu là “chết tự nhiên”, nghĩa là chết khi đến tuổi già yếu, tuổi thọ đã hết. Tuổi thọ tuỳ thuộc cảnh giới, không hạn định được số lượng nào. Người chết do hết tuổi thọ như ngọn đèn tắt vì dầu đã cạn hoặc tim đã lụn. Tuy nhiên, vẫn có trường hợp xảy ra, tuổi thọ hết nhưng nghiệp tái tạo (sanh nghiệp) của người ấy chưa chấm dứt thì sao? Nếu năng lực của nghiệp còn tiềm tàng thì người ấy có thể tiếp tục sống trong cảnh giới ấy hoặc trong một cảnh giới cao hơn.

1.2- Sự chấm dứt của nghiệp.

Đây là sự chấm dứt của sanh nghiệp hay nghiệp tái tạo trong kiếp ấy. Dù thiện dù ác, năng lực trả quả của nghiệp ấy đến lúc đó không còn diễn tiến được nữa, phải nhường chỗ cho sanh nghiệp mới hay nghiệp tái tạo mới.

Nghiệp mới ấy chính là tác hành tâm (javana) của người ấy lúc lâm chung, có sức mạnh chi phối sự tái sanh. Vào sát-na ấy, lúc sanh nghiệp cũ chấm dứt, tử diệt, một năng lực đặc biệt của sanh nghiệp mới, tạo tác nên đời sống mới, cảnh giới mới.

1.3- Tuổi thọ và nghiệp cùng diệt.

Đây là trường hợp một người chết lúc tuổi già, đồng thời “sanh nghiệp” người ấy cũng chấm dứt cùng một lúc.

Nếu trường hợp thứ nhất là đèn tắt do hết dầu, trường hợp thứ hai do tim lụn – thì trường hợp thứ ba là hết dầu và tim lụn cùng một lần.

1.4- Sự chen vào của đoạn nghiệp

Đây là sự chen vào của một nghiệp rất nặng, có công năng tiêu diệt sanh nghiệp của loài hữu tình. Đây thường là những cái chết dữ do một sát nghiệp quá nặng từ quá khứ đến lúc trổ quả. Ví như chết do bom nổ, dao đâm, xe tông, lửa cháy, chết đuối... chúng gồm tất cả các loại chết được gọi là “bất đắc kỳ tử”.

Ba loại chết đầu được gọi là chết đúng thời (kālamaraṇa), loại thứ tư, sau cùng được gọi là chết phi thời (akālamaraṇa).

Nếu một ngọn đèn bị tắt, ba loại đầu là hết dầu, tim lụn, tim và dầu cùng hết thì loại thứ tư, đoạn nghiệp được ví như gió thổi tắt.

2- Những hiện tượng của nghiệp phát sanh trước khi chết


Đối với những người sắp sửa chết, trong khi lâm chung, do sức mạnh của nghiệp, kiết sanh thức của người ấy chịu sự tác động của một trong 4 nghiệp sau đây:

- Cực trọng nghiệp.
- Cận tử nghiệp.
- Tập quán nghiệp (thường nghiệp).
- Tích luỹ nghiệp.

Nếu là cực trọng nghiệp, dầu thiện dầu ác, thì tức khắc người lâm chung bị nghiệp này chi phối, không có nghiệp nào có khả năng chen vào được. Thứ tự ưu tiên tiếp theo là thường nghiệp (tập quán nghiệp), do thói quen bởi những hành động thường làm trong đời sống hằng ngày. Tích luỹ nghiệp, nếu được quy tụ tạo thành một khuynh hướng, một cá tính cũng có thể dẫn dắt kiết sanh thức ra đi. Còn nếu có một nghiệp được làm trước lúc chấm dứt hơi thở – cận tử nghiệp - thì nghiệp này quyết định cảnh giới tái sanh.

Tuy nhiên, dẫu là nghiệp nào đi nữa, người lâm chung sẽ bị chi phối bởi nghiệp, nghiệp tướng và thú tướng như sau:

2.1- Nghiệp (kamma)

Tức là nghiệp nào có sức mạnh nhất hoặc có điều kiện nhất, không biết là thiện hay ác – một trong 4 nghiệp trên sẽ quyết định dòng tâm thức của người ấy, xảy ra tại những sát-na tác hành tâm. Chính những sát-na tác hành tâm – mà tư tác (cetanā) là năng lực điều hành sẽ nắm bắt đối tượng, hoặc thanh tịnh hoặc nhiễm ô, hoặc hỷ hoặc xả – tương ưng với cảnh giới tái sanh. Chính ở đây, sau đó, sẽ xảy ra hai biểu tướng tiếp theo là nghiệp tướng và thú tướng.

2.2- Nghiệp tướng (kammanimitta)

Nghiệp có thể đi qua 5 lộ trình của ngũ môn (5 cửa, 5 căn), sau đó được đúc kết hoặc quyết định ở lộ trình ý môn (cửa ý, ý căn). Vậy, nghiệp bao giờ cũng xảy ra từ ý căn.

Còn nghiệp tướng, tức là tướng của nghiệp, chính là những sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nào mà người ấy từng kinh nghiệm, tạo tác, huân tập ở trong đời, đã trở thành quán tính, nó tự động hiện khởi rất rõ ràng trong ý môn của người lâm tử. Ví dụ:

- Chậu máu, con dao... đối với tên đồ tể.

- Hình ảnh bệnh nhân, kim tiêm, các vị thuốc đối với lương y.

- Bình hoa, quyển kinh, hộp xá-lợi... đối với cư sĩ thuần thành.

- Mùi trầm, mùi hương hoa... đối với người hay thiết lễ cúng dường bàn thờ Phật

- Quyển sách đẹp, tập thơ trang nhã... đối với nhà văn, nhà thơ.

- Cảnh núi non sơn thuỷ hữu tình... đối với bậc ẩn sĩ...

Lúc những tướng nghiệp như trên hiện ra, ngay tức khắc sau đó là thú tướng.

2.3- Thú tướng (gatinimitta)

Đây là tướng của cảnh giới tái sanh. Tướng của cảnh giới tuỳ theo thiện hay ác, thanh tịnh hay nhiễm ô... chúng sẽ hiện ra trong ý môn của người lâm tử. Ví dụ:

- Thấy rừng lửa, biển máu, hầm dao, chông... Đây là biểu tướng của địa ngục.

- Thấy hầm đen, sâu hun hút, tanh, hôi... là biểu tướng đi vào thai bào súc sanh.

- Thấy đường mây, đường hoa lên thiên cung, xanh tươi, đẹp đẽ, quang rạng... là biểu tượng của các cảnh trời...

Trong những sát-na này, tướng của nghiệp hiện ra như thế nào thì thức tái sanh sẽ nương gá tức khắc vào cảnh giới ấy. Vì giây phút lâm tử này quá quan trọng nên chúng ta có thể tạo cận tử nghiệp tốt cho người lâm tử, bằng cách dùng sắc tướng (tượng Phật, quyển kinh), âm thanh (tụng kinh, chuông, mõ), mùi hương (trầm)... để tạo ngũ môn và ý môn lộ trình tâm tốt, đẹp, thanh lương, trong sáng cho người ấy.

Nói tóm lại, nghiệp luôn khởi ở ý căn; nghiệp tướng có thể hiện khởi tại 1 trong 6 căn, tuỳ trường hợp; thú tướng luôn là những sắc tướng, những hình ảnh hiện khởi trong tâm như giấc chiêm bao.

3- Lộ trình tâm của người sắp chết


Lúc nghiệp, nghiệp tướng và thú tướng hiện ra, lộ trình tâm của người lâm tử sẽ nắm bắt chúng làm đối tượng, rồi các sát-na tâm sẽ diễn tiến cho đến khi kiết sanh thức nương gá vào đời sống mới; và lộ trình ấy diễn ra như sau:

- Hữu phần rung động và dừng lại 2 sát-na tâm rồi diệt.
- Ý môn hướng tâm khởi lên 1 sát-na rồi diệt.
- Tác hành tâm khởi lên 5 sát-na rồi diệt.

Đối tượng từ nghiệp, nghiệp tướng và thú tướng do 5 sát-na tác hành tâm này xử sự; tuy chỉ 5 sát-na (không phải 7 như thường lệ) nhưng nó có khả năng điều hành, chi phối một đời sống mới.

Sau 5 sát-na tác hành tâm (cetāna-tư tác quyết định), 2 sát-na đồng sở duyên có thể khởi hay không khởi, tuỳ trường hợp. Có thể sau 5 sát-na tác hành tâm là tử tâm (cuti) là sát-na tâm cuối cùng trong đời sống hiện tại. Có người hiểu lầm là đời sống kế tiếp bị định đoạt bởi tử tâm cuối cùng này. Sự thật, chính tác hành tâm mới chi phối đời sống sau.

Khi tử tâm diệt, sự chết mới thật sự bắt đầu. Và sắc thân của người chết, từ đây, không có một sắc pháp nào được tạo ra do tâm hay do vật thực nữa, chỉ còn sắc do hoả đại (nóng, lạnh, thời tiết) được tạo ra, tiếp diễn cho đến khi thi thể trở thành tro bụi.

Sau khi tử tâm diệt, một kiết sanh thức do tác hành tâm quyết định có nhiệm vụ nối liền đời sống kế. Và đời sống kế lại được tiếp diễn bởi những sát-na bhavaṇga hoặc lặp đi lặp lại nhiều dòng bhavaṇga. Cho đến lúc nào ý môn hướng tâm, 5 sát-na tác hành tâm phát sanh tâm ưa thích đối với đời sống mới, lúc đó nghiệp sanh sắc đầu tiên mới tạo nên danh-sắc trong thai bào. Sau đó, dòng bhavaṇga tiếp tục khởi và diệt, chúng cứ trôi chảy mãi như dòng nước không ngưng nghỉ.

Lưu ý:

- Người ta hay nói “kiết sanh thức” là quả của tử tâm (cuti), không phải thế, nếu nói chính xác thì kiết sanh thức là năng lực do tác hành tâm tạo ra, tạm gọi là quả của tác hành tâm.

- Tử tâm không liên hệ gì đến kiết sanh thức, chỉ là tên gọi nhằm chỉ lúc danh-sắc mạng căn của nghiệp cũ chấm dứt.

4- Dòng tâm thức tái sanh


Bất cứ chúng sanh nào tới lúc tái sanh, dòng bhavaṇga trôi chảy không gián đoạn. Nếu kể về sự chết của một tâm sinh vật lý – thì lúc tử tâm báo hiệu sự chết thì kiết sanh thức nối liền đời sống kế, một dòng tâm thức (bhavaṇga) khác lại tiếp diễn. Ở đây, tử tâm, kiết sanh thức và hữu phần cùng chung một đối tượng. Các bậc có trí nói rằng cả ba tâm này cũng có cùng chung một loại tâm sở. Chúng chỉ khác nhau ở danh từ và các chức năng công tác.

Sau khi một vài sát-na nhỏ đầu tiên của hữu phần tạo nên các sắc pháp do nghiệp sanh... thì hữu phần vẫn tiếp tục trôi chảy trong đời sống mới cho đến khi hết tuổi thọ. Rồi lại tái diễn tử tâm – kiết sanh thức – hữu phần... và dòng sống ấy không bao giờ khô cạn, không bao giờ dừng nghỉ.

Nói tóm lại, cuộc tử sinh với dòng diễn biến vô tận, vô định này chỉ được chấm dứt khi không còn mọi khát vọng tầm cầu, không còn bị sự sai sử của Vô minh và Hành nữa; tức là chứng đạt và an trú đạo quả A-la-hán.

III- Nghi thức thiết lễ “cầu siêu” theo truyền thống Nam tạng.


Như vậy, theo Nam tạng Pāḷi văn xác quyết là không có 49 ngày và không có cả thân trung ấm. Và mục này tôi sẽ chia làm 3 phần sau đây:

-  Tái sanh tức khắc
-  Danh (phần tâm thức) và Sắc (thân xác vật lý) không lìa nhau
-  Nghi thức hộ niệm

1- Tái sanh tức khắc


Theo hiện tượng chết và tái sanh ở phần II, chúng ta thấy rõ rằng, sau tử tâm, kiết sanh thức là thức nối liền đời sống kế tức khắc tìm kiếm cảnh giới khổ hay vui đều do nghiệp (4 loại nghiệp), tức là do tư tưởng, tâm niệm cuối cùng quyết định. Chẳng có vị Phật nào, Bồ-tát nào có thể xen vào định luật nhân quả nghiệp báo do chúng sanh đã tạo để ban ơn hay cứu rỗi được. Đây là luật tắc rất “khoa học”, rất công minh vậy.

- Như con sâu đo, muốn rời chiếc lá này, tức khắc nó chụp bắt chiếc lá khác!

- Như nghĩ tưởng chợ Đông Ba hay chợ Bến Thành thì tức khắc tái sanh đến đó ngay!

2- Danh (phần tâm thức) và sắc (thân vật lý) vốn không thể lìa nhau.


Thật chúng ta không thể tưởng tượng được rằng, cái thần thức lại có thể lang thang một mình, vất vơ vất vưởng 1 ngày, 2 ngày, 1 tuần, 3 tuần đến 7 tuần. Nó là linh hồn thường tại sao? Có linh hồn đi một mình là thường kiến của ngoại đạo đó! Bao giờ sắc cũng không lìa danh, danh cũng không lìa sắc. Danh phải có chỗ nương gá là sắc ngay tức khắc. Khi tử tâm diệt, kiết sanh thức (danh) tìm kiếm sắc (tinh trùng và noãn châu, nếu là thai sanh) để tạo lập danh sắc mới! Ở đây, những sắc pháp đầu tiên do nghiệp sanh nằm ở sát-na nhỏ, qua sát-na nhỏ thứ 2 là sắc do thời tiết sanh - thế rồi đời sống kế bắt đầu tượng hình trong thai bào.

Danh, sắc trong 3 cõi Dục, Sắc và Vô Sắc:

- Địa ngục: Thuộc hoá sanh tức khắc, đầy đủ danh sắc để thọ khổ. Chỉ nhận chịu quả báo, không thể tạo nhân.

- Ngạ quỷ: Thuộc hoá sanh tức khắc, đầy đủ danh sắc nhưng là sắc tế vi, mắt người không thấy được. Chỉ nhận chịu quả báo, không thể tạo nhân.

- Súc sanh: Chỉ tất cả các loài động vật có thức tánh cao hay thức tánh thấp, cả thức tánh nhỏ nhiệm. Chúng thuộc noãn, thai, thấp, hoá, đầy đủ danh sắc, là sắc thô tháo hoặc nhỏ li ti mắt người không thấy được như vi trùng, vi khuẩn... Nhận chịu quả báo và có một số tạo thêm nghiệp ác mới.

- A-tu-la: Thuộc hoá sanh tức khắc, đầy đủ danh sắc, là sắc tế vi, đẹp xấu tuỳ nghiệp. Nhận chịu quả báo và có một số tạo thêm nghiệp ác mới hay nghiệp thiện mới.

- Cõi người: Thuộc thai sanh, đầy đủ danh sắc, sắc đẹp sắc xấu tuỳ nghiệp. Có 6 trú căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Nhận chịu quả báo nhưng có thể tạo tác thêm nghiệp thiện, ác tuỳ người.

- 6 cõi trời Dục giới: Thuộc hoá sanh, đầy đủ danh sắc, là sắc tế vi, xinh đẹp do thiện nghiệp. Họ cũng có 6 căn như cõi người nhưng tế vi và xinh đẹp hơn, có nam, có nữ và trẻ trung, thanh xuân cho đến tuổi già. Hưởng thụ ngũ dục cũng như cõi người nhưng “vi diệu, thù thắng” hơn! Chỉ thọ hưởng quả phước. Chỉ có một số rất ít tạo tác thêm nghiệp lành qua tâm ý.

- Phạm thiên Sắc giới: Do đắc định sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền sắc giới mà hoá sanh tức khắc. Họ có đầy đủ danh sắc. Chỉ có nam, không có nữ. Họ chỉ có 3 trú căn là mắt, tai và ý. Do đã rời xa ngũ dục nên họ không có căn mũi để ngửi hương, không có căn lưỡi để nếm vị, không có căn da để xúc chạm êm ái. Họ sống và thọ hưởng hạnh phúc của thiền định, đấy là hỷ, lạc, xả và nhất tâm. Hết phước thiền định, họ xuống hoặc lên tuỳ nghiệp đã tạo tác trước đây. Họ không thể tạo nhân mới, nghiệp mới.

Trong cõi tứ thiền sắc giới, có vị Phạm thiên do trú Vô tưởng thiền là chỉ có sắc, không có danh do năng lực định duy trì; tuy nhiên, không phải là không có danh, mà danh đang ở dạng tiềm miên, do vậy vẫn có danh sắc.

- Phạm thiên Vô Sắc giới: Do đắc định tứ thiền Vô Sắc mà hoá sanh tức khắc đến những tầng trời cao tột này. Đây là cảnh giới chỉ sống với khái niệm, với ý tưởng, họ không có sắc chất, hình thể, tức là chỉ tồn tại danh, không có sắc. Danh và sắc thường liên hệ hỗ tương, không thể tách rời nhau, tuy nhiên, do năng lực thiền, các vị này tách lìa danh ra khỏi sắc (do họ chán các sắc) và sống mãi trạng thái ấy cho đến hết tuổi thọ (hết năng lực thiền). Trạng thái ấy là xả và nhất tâm. Và sắc cũng ở dạng tiềm miên, hết phước thiền, sắc trở lại với danh sắc!

Tương tợ Sắc giới, Vô Sắc giới không có giống nam, giống nữ. Họ chỉ có một ý căn, không có các căn mắt tai mũi lưỡi thân!

Sau khi khảo sát cả Tam giới thì danh sắc vốn bất ly, chỉ vài nơi, do năng lực thiền tạm tách rời danh sắc – thì không hiểu thân trung ấm nằm ở cõi nào, rồi còn vất vơ, vất vưởng lang thang một mình như một linh hồn theo quan điểm của ngoại đạo, tà giáo? Vậy 49 ngày cùng thân trung ấm là đi ngược lại giáo pháp rất đáng phàn nàn vậy.

3- Nghi thức hộ niệm theo Nam truyền


Thời Phật tại thế, khi một vị tỳ-khưu hoặc một cư sĩ mất, đức Phật hoặc chư tăng đến bên xác chết chỉ để tụng đọc những bài kệ vô thường và vô ngã... hoặc niệm thân hoặc niệm sự chết. Và ngày nay, chư tăng cũng thường đọc tụng như thế.

Khi nghe tin một người sắp lâm chung, chư tăng được gia đình cư sĩ đến tụng kinh cầu an. Cầu an chỉ là tạm mượn của Bắc truyền chứ Nam truyền, thay vì nói cầu an là tụng kệ chúc phúc an lành. Cầu siêu cũng vậy, Nam truyền chỉ tạm mượn, chứ thật ra chỉ để đọc kệ quán sự chết, quán thân, quán vô thường, khổ không, vô ngã, không thể cầu siêu độ cho hương linh được, chỉ gia niệm, gia trì, gia hộ do năng lực của tâm thanh tịnh thôi.

Giây phút quan trọng nhất là khi người sắp mất còn nghe được tiếng lời kinh, kệ để có thể tự chuyển hoá tâm thức mình. Có thể mở băng đĩa kinh, những thời pháp. Nếu còn thấy được thì nên để cho người ấy thấy hình ảnh đức Phật, và cụ thể là chư tăng đang đứng gần bên mà phát sanh đức tin, nhớ nghĩ những việc lành của mình đã làm trong quá khứ. Nếu không còn nghe, còn thấy thì có thấy đốt trầm, hương, biết đâu người sắp mất cảm nhận được... Tuyệt đối trong gia đình không nên khóc lóc, nên giữ không gian thanh tịnh tạo một năng lượng an lành bao quanh.

Nam tông cũng nhập liệm, cũng trị quan, trị huyệt nhưng đều chỉ tụng đọc những bài kệ như nêu dẫn ở trên.

Sau khi người chết đã đặt trong quan rồi, trước có thiết lễ bàn thờ Phật Thích Ca (không có Quan Âm, Di Đà, Địa Tạng), có đèn trầm, hương hoa quả phẩm, tuyệt đối không cúng thêm bất kỳ gì món gì khác. Điểm quan trọng tiếp theo, là ngày nào gia chủ cũng thỉnh mời chư tăng, tối thiểu 4 vị, 6 vị tỳ-khưu (đủ đại diện cho Tăng-già) đến để cúng dường y, vật thực rồi chư tăng tụng kinh chú nguyện hồi hướng. Buổi chiều, tối, chư cư sĩ bạn đạo vài chục người đến tụng kinh.

Ngày cuối cùng, ngày mai tiễn linh, bao giờ cũng thỉnh mời một vị trưởng lão đến để thuyết pháp bên cạnh kim quan, không phải là thuyết cho người chết (thuyết linh) mà thuyết cho người sống nghe. Bên Nam tông không coi trọng quá cái xác chết, có thể chôn cất mà cũng có thể thiêu, bây giờ đa phần là thiêu, lấy ít cốt về thờ hoặc gởi tại một ngôi chùa nào đó.

Do tập tục về thân trung ấm và 49 ngày đã xâm nhập quá lâu vào tâm thức nhân gian nên Nam tông cũng quen tuần nhất, tuần nhì cho đến thất tuần trai tăng hồi hướng. Tôi đã nhiều lần muốn bỏ nhưng đành chịu. Nghĩ cũng tốt, thế là có cả thảy 7 tuần để tưởng nhớ người đã mất, hồi hướng phước cho người đã mất. Người ta lại còn có cơ hội tưởng nhớ đến Tam Bảo, đến việc thiện, đến phước đức không là điều đáng trân trọng sao? Ngoại trừ đâu đó “tạt nước theo mưa” hoặc lợi dụng tín ngưỡng ấy với những ý đồ riêng thì ở đây tôi không nói tới. Tuy nhiên, nếu quá rối rắm, hệ luỵ cho hai hàng cư sĩ thì không nên, họ khổ nhiều rồi, đến chùa học đạo diệt khổ mà quá nhiều phiền não phát sinh thì có đáng không?


Phải biết cái gì chính, cái gì phụ, việc đáng làm và việc không đáng làm. Bày nhiều hình thức lễ nghi quá là rơi vào giới cấm thủ đấy! Lời thật mất lòng, xin chư vị thiện trí thức hiểu cho điều này và cổ suý cho. Biết sai mà không nói cũng hổ thẹn với giáo pháp, hổ thẹn với chư Phật và nhất là hổ thẹn với hàng phật tử học Phật chơn chánh vậy.  





chết vào thân trung ấm và tái sinh theo phật giáo tây tạng - đại sư lati rinbochay & jeffrey hopkins .txt


chết vào thân trung ấm và tái sinh theo phật giáo tây tạng - đại sư lati rinbochay & jeffrey hopkins .pdf


chết vào thân trung ấm và tái sinh theo phật giáo tây tạng - đại sư lati rinbochay & jeffrey hopkins .doc



Danh sách 50 cuốn sách cần đọc , Dịch giả Thái bá tân

Phanblogs Danh sách 50 cuốn sách nên đọc , Dịch giả Thái bá tân Thái Bá Tân sinh ngày 27 tháng 2, 1949 (68 tuổi) (trong khai sinh ghi năm 1950) tại xã Diễn Lộc, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An là dịch giả, nhà thơ, nhà văn Việt Nam.

Ông sinh ra trong dòng họ Thái, được coi là hậu duệ của Tao Đàn Phó Nguyên Soái Thái Thuận dưới triều Lê Thánh Tông. Ông từng học Đại học ngoại ngữ Matscova (khoa phiên dịch tiếng Anh) 1967 – 1974. Phiên dịch tiếng Anh và Nga ở Bộ Thủy Sản. Dạy tiếng Anh và văn học Anh tại Đại học Sư phạm ngoại ngữ Hà Nội 1975 – 1978. Sau đó ông về làm biên tập sách tại nhà xuất bản Lao động, Hội nhà văn. Hiện thuộc biên chế Hội Nhà văn Việt Nam, phó chủ tịch Hội đồng Văn học nước ngoài và ủy viên Ban đối ngoại của hội. Hiện ông đang sống và làm việc tại Hà Nội.

Đã xuất bản khoảng 70 đầu sách, gồm thơ dịch, truyện ngắn và thơ sáng tác. Hơn hai mươi lăm năm tổ chức lớp học thêm tiếng Anh cho sinh viên, với gần 300 người một lớp, rất nhiều thế hệ học sinh, sinh viên đã trưởng thành và thành công từ lớp học tiếng Anh này của ông.
Thái Bá Tân người đốt đền

  1. tình yêu cuộc sống, tác giả:  jack london. định dạng ebook : mobi
  2. kinh thánh, tác giả:  tân ước, tác giả:  đức chúa trời. định dạng ebook : mobi
  3. harry potter và tên tù nhân ngục azkaban, tác giả:  j.k. rowling. định dạng ebook : mobi
  4. không gia đình, tác giả:  hector malot. định dạng ebook : mobi
  5. nanh trắng, tác giả:  jack london. định dạng ebook : mobi
  6. roméo và juliette, tác giả:  william shakespeare. định dạng ebook : mobi
  7. vua lear, tác giả:  william shakespeare. định dạng ebook : mobi
  8. harry potter và phòng chứa bí mật, tác giả:  j.k. rowling. định dạng ebook : mobi
  9. mối tình đầu, tác giả:  m.gorki. định dạng ebook : mobi
  10. những người khốn khổ, tác giả:  victor hugo. định dạng ebook : mobi
  11. hamlet, hoàng tử đan mạch, tác giả:  william shakespeare. định dạng ebook : mobi
  12. đông ki sốt nhà hiệp sĩ xứ mantra, tác giả:  cervantes. định dạng ebook : mobi
  13. david copefield, tác giả:  charles dickens. định dạng ebook : mobi
  14. jane eyre, tác giả:  charlotte bronte. định dạng ebook : mobi
  15. bình minh mưa, tác giả:  pautovsky konstantins. định dạng ebook : mobi
  16. harry potter và hòn đá phù thủy, tác giả:  j.k. rowling. định dạng ebook : mobi
  17. bác sĩ zhivago, tác giả:  boris pasternak. định dạng ebook : mobi
  18. câu chuyện triết học, tác giả:  will durant. định dạng ebook : mobi
  19. cuộc quyết đấu của zodomirski, tác giả:  alexandre dumas. định dạng ebook : mobi
  20. bá tước monto crixto, tác giả:  alexandre dumas. định dạng ebook : mobi
  21. thần thoại hy lạp, tác giả:  nguyễn văn khỏa. định dạng ebook : mobi
  22. ơgiêni grăngđê, tác giả:  honoré de balzac. định dạng ebook : mobi
  23. truyện cổ grim, tác giả:  anh em nhà grim. định dạng ebook : mobi
  24. harry potter và bảo bối tử thần (2), tác giả:  j.k. rowling. định dạng ebook : mobi
  25. cái chết của ba người lính ngự lâm, tác giả:  alexandre dumas. định dạng ebook : mobi
  26. cuốn theo chiều gió, tác giả:  margaret mitchell. định dạng ebook : mobi
  27. bố già, tác giả:  mario puzo. định dạng ebook : mobi
  28. hai mươi năm sau, tác giả:  alexandre dumas. định dạng ebook : mobi
  29. chiến tranh và hoà bình, tác giả:  lev tolstoy. định dạng ebook : mobi
  30. ba người lính ngự lâm, tác giả:  alexandre dumas. định dạng ebook : mobi
  31. hồng lâu mộng, tác giả:  tào tuyết cần. định dạng ebook : mobi
  32. harry potter và thanh gươm gryffindor, tác giả:  dan kirk. định dạng ebook : mobi
  33. harry potter và hoàng tử lai, tác giả:  j.k. rowling. định dạng ebook : mobi
  34. harry potter và bảo bối tử thần, tác giả:  j.k. rowling. định dạng ebook : mobi
  35. kinh thánh, tác giả:  đức chúa trời. định dạng ebook : mobi
  36. hoàng tử bé, tác giả:  antoine de saint exupéry. định dạng ebook : mobi
  37. harry potter và hoàng tử lai (2), tác giả:  j.k. rowling. định dạng ebook : mobi
  38. harry potter và mật lệnh phượng hoàng, tác giả:  j.k. rowling. định dạng ebook : mobi
  39. harry potter và chiếc cốc lửa, tác giả:  j.k. rowling. định dạng ebook : mobi
  40. nha tho duc ba paris.pdf
  41. phục sinh, tác giả:  lev tolstoy. định dạng ebook : mobi
  42. tội ác và sự trừng phạt, tác giả:  dostoevsky. định dạng ebook : mobi
  43. lịch sử văn minh ấn độ, tác giả:  will durant. định dạng ebook : mobi
  44. nghìn lẻ một đêm, tác giả:  antoine galland. định dạng ebook : mobi
  45. lịch sử văn minh trung hoa, tác giả:  will durant. định dạng ebook : mobi
  46. từ bỏ thế giới vàng, tác giả:  jack london. định dạng ebook : mobi
  47. việt nam sử lược, tác giả:  trần trọng kim. định dạng ebook : mobi
  48. kho tàng truyện cổ tích, tác giả:  nguyễn đổng chi. định dạng ebook : mobi
  49. sử ký tư mã thiên, tác giả:  tư mã thiên. định dạng ebook : mobi
  50. liêu trai chí dị, tác giả:  bồ tùng linh. định dạng ebook : mobi



180 nghìn giao dịch Bitcoin chưa được xác nhận nhà đầu tư có còn lướt sóng ?

Phanblogs 171872 Số lượng giao dịch Bitcoin chưa được xác nhận nhà đầu tư có còn lướt sóng ?

Do nhu cầu sử dụng cũng như giao dịch quá nhiều của Bitcoin hiện nay nên đã gây ra hiện tượng xác nhận chậm hàng giờ thậm chí nhiều giờ và nhiều ngày
Lượng giao dịch Bitcoin chờ xác nhận trên https://blockchain.info


Vậy câu hỏi các giao dịch Bitcoin diễn ra trong bao lâu?


Câu trả lời đơn giản nhất: là thời gian cần thiết để chuyển và thay đổi số lượng Bitcoin giữa các ví thông qua giao dịch sang giao dịch.

Khi bạn thực hiện một giao dịch Bitcoin, nó cần phải được phê duyệt bởi mạng lưới trước khi nó có thể được hoàn thành. Cộng đồng Bitcoin đã thiết lập một tiêu chuẩn tối thiểu cần 6 xác nhận từ thợ mỏ trước khi bạn có thể coi như giao dịch đó hoàn thành.
Cộng đồng Bitcoin đã thiết lập một tiêu chuẩn tối thiểu cần 6 xác nhận từ thợ mỏ

Điều gì quyết định thời gian giao dịch Bitcoin?

Hai yếu tố chính ảnh hưởng đến thời gian giao dịch là:

Số lượng người cùng hoạt động trong mạng lưới
Phí giao dịch
Càng nhiều giao dịch mà hệ thống cần xử lý thì thời gian xác nhận giao dịch càng dài hơn. vì chỉ có một số lượng hạn chế của các thợ mỏ để xử lý mỗi khối và có một số hữu hạn các giao dịch có thể được bao gồm trong một khối.

Thợ mỏ Bitcoin ưu tiên giao dịch bằng khoản phí mà họ nhận được để xác nhận. Vì vậy, nếu bạn trả một khoản phí cao hơn nhiều khả năng thợ mỏ sẽ ưu tiên xử lý chuyển khoản của bạn và làm giảm thời gian giao dịch.

Cần bao lâu để xác nhận giao dịch Bitcoin?

một giao dịch Bitcoin thành công với 14 xác nhận

Như đã đề cập trước đó, một giao dịch Bitcoin thường cần 6 xác nhận từ các thợ mỏ trước khi nó được xử lý. Thời gian trung bình cần để khai thác một khối là 10 phút, do đó một giao dịch trung bình mất khoảng một giờ.

Tuy nhiên, sự bùng nổ phổ biến gần đây của Bitcoin đã gây tắc nghẽn trên mạng. Thời gian trung bình cho một lần xác nhận gần đây đã dao động từ 30 phút đến hơn 16 giờ. Cá biệt có những tài khoản bị treo giao dịch đến 9 ngày.

Cách xử lý giao dịch bị treo lâu :


Cách 1 đẩy một giao dịch thô ở định dạng hex (tức các ký tự 0-9, af) và phát nó qua mạng bitcoin.
thông qua https://blockchain.info/pushtx

Cách 2 tạo một giao dịch mới giống giao dịch cũ với số lượng ít nhưng đẩy phí giao dich cao lên.
Thợ mỏ sẽ ưu tiên khớp lệnh xác nhận cho giao dịch này. Đồng nghĩa với ví của bạn cũng sẽ được khớp lệnh các giao dịch trước đó còn đang treo.


Còn tiếp.

Hoa thiên lý, Con sáo của em tôi, Đại Dương Trong Lòng Con Ốc Nhỏ Tác giả Duyên Anh

Phanblogs Mẹ tôi ví tôi như trái chín rấm. Tôi tưởng tôi là trái chín hoang. Vì trừ trái chín cây không thèm kể đến, trái chín rấm còn được người ta xếp vào lò hay bỏ vào vựa, vào chum, người ta nhét vào đầy lá soan cho mau chín chứ đời tôi, đời anh em tôi nhất định là hai trái chín hoang. Ngày nào đó, người ta thấy hai trái xanh quá, xấu xí quá, người ta ném vô bụi giậu. Mưa, nắng, gió bão tới tấp, chịu đựng nổi thì trái chín. Tôi biết tôi chịu đựng nổi bởi vì ngoài họ hàng bên nội bên ngoại còn mẹ tôi, còn chú Nghị. Ngoài đám con cái cậu mợ tôi hay bắt nạt, hếp đáp anh em tôi còn bọn trẻ con ở bến đò Ðồng – đức dạy tôi buộc tổ sáo… Và mai mốt tôi sẽ chín, chín chẳng để trả thù ai đâu, nhưng chín để kể lại chuỗi ngày tháng anh em tôi nuôi con sáo.


Hoa thiên lý . Duyên Anh

Mẹ tôi yêu hoa thiên lý như yêu chồng con. Chả biết mầu xanh dìu dịu của lá và hương thơm nhẹ nhàng của hoa thiết tha là bao mà mẹ tôi âu yếm nó thế.

Thường thường mẹ tôi trồng từng khóm. Mẹ bắc khum khum một cái giàn. Chiều chiều mẹ xách nước tưới vào gốc cho cây chóng lớn. Khi lá theo cành lên kín đầy giàn và khi loài ve sầu rủ rê mùa hạ sang thì họ hàng nhà bọ ngựa đã tha thẩn cả ngày leo bò lên giàn hoa lý xanh tươi.

Đối với tôi hồi còn bé có lẽ cây ổi chĩu nặng quả chín còn thú vị hơn giàn hoa thiên lý của mẹ. Nhưng mỗi lần theo mẹ mang rỗ ra vườn hái từng chùm hoa về nấu canh với cua đồng, tôi thấy lòng tôi hớn hở và cả lòng mẹ cũng tươi nở dưới giàn hoa.

– Hoa thiên lý nấu với cua đồng ngon lắm cơ con ạ !

– Mùi nó làm sao ấy mẹ ạ ! Con ghét giàn hoa của mẹ ghê đi ấy, cây gì lại cây chẳng có quả. Mai con chặt nó đi mẹ nhé !

– Hư nào, tại con chưa biết ăn thì đừng bảo nó làm sao à ? Hôm nay con thử ăn mà xem, ngọt ngọt là.

– Ngọt như kẹo dồi chó không hở mẹ ?

Mẹ tôi cười đăm đăm nhìn tôi. Tia mắt hiền hòa ấy như tiếng ru muôn đời có bao giờ định nghĩa được, nên ngày nay dù tôi không nhớ hết kỷ niệm huy hoàng của thời thơ ấu thì tôi vẫn tự nhủ rằng tất cả đã nằm trong bài hát ru con mà mẹ tôi đã ru tôi trên đôi tay gầy nho nhỏ và đã in vào ánh mắt mà mẹ tôi ban cho tôi thuở thiếu thời, đã lắng trong tâm hồn tôi.

– Mẹ yêu hoa thiên lý như yêu các con, hễ Long ghét giàn hoa của mẹ thì mẹ giận đấy.

– Ứ ừ ! Thế con cũng yêu hoa lý.

Tôi vội vàng nói thế, kẻo mẹ tôi giận. Mẹ tôi chỉ cười. Và từ hôm ấy, mỗi buổi trưa mẹ hay dắt tôi ra hóng gió ở dưới giàn hoa. Mẹ mang chiếu ra trải. Mẹ ngồi nghĩ ngợi xa xôi. Tôi ngồi gối đầu vào lòng mẹ mơ màng nghe tiếng sảo diều vi vu, tiếng võng đưa kẽo kẹt, tiếng ru buồn thấm thía hay tiếng chim cu gáy xa xa vọng lại. Đôi khi mẹ kể chuyện gì mà tôi không hiểu được, nhưng chắc lòng mẹ rộn ràng lắm vì cử thấy mẹ mỉm cuời bâng quơ. Tôi thường ngủ thiếp đi trong hơi thở êm đềm ấy.

hoathienlyDần đần tôi thích trồng hoa. Tôi bắt mẹ bắc cho tôi một cái giàn. Mẹ bảo đến mùa hạ sang năm giàn hoa của tôi đẹp lắm, bốn mùa trắng xóa ánh trăng lan. Nhưng tôi không đợi được đến mùa hạ. Khi khóm cây bắt đầu leo, cha tôi ở Hà-Nội về đem gia-đình lên Vĩnh-Yên mở đồn điền. Tôi rời quê ngoại chưa biết tương tư tiếng sáo diều mà chỉ nhớ mang mảng giàn hoa thiên lý mới trồng.

Rồi tôi lớn lên giữa cảnh bao la hùng vĩ của đồi núi. Những buổi chiều theo cha cỡi ngựa đi hứng gió không làm cho tôi sung sướng bằng nằm trên bờ cỏ nghe tiếng suối reo. Tôi ghét cái bộ mặt của mấy bác cai, tôi ghét tiếng hò hét khi cái bác mắng mỏ người làm. Tôi cũng ghét cả nét mặt lạnh lùng ghê-sợ của cha tôi. Đển bây giờ, tôi vẫn chưa hiểu tại sao ngày bé nhỏ tôi ham thích những cải gì mềm mại, dễ thương im lặng như giọt mồ hôi chảy đều trên lưng người thợ hay hơi thở đều đều của mẹ tôi. Tâm hồn tôi giản dị nên tôi không ưa gì lũ cây sù sì mọc đầy nơi rừng rậm hoang vu nảy. Tôi vẫn thích giàn hoa thiên lý ở quê ngoại.

Lên đây ít lâu mẹ tôi đã tốn nhiều công phu mà chưa ươm được khóm nào. Tại hoa lý chẳng hợp đất rừng hay đất rừng không chịu dung nạp loại cây ỉ lại sức người ? Mỗi lần có người xuôi đồng bằng, mẹ tôi cố dặn thử mang một cây giống lên xem sao, cha tôi đều gạt đi :

– Giồng làm cái quải gì của nợ ấy !

– Cậu thì chẳng khi nào muốn giữ kỷ niệm êm đềm của đời mình.

Mỗi lần thế, mẹ tôi buồn lắm có khi mẹ khóc và bỏ ăn hai ba bữa. Mới lên mười tuổi, tôi đã làm sao thấu rõ tâm sự của mẹ, làm sao tìm hiểu nổi niềm ấp ủ hoa thiên lý của mẹ tôi. Nhưng dù sao mẹ cũng cố vun trồng và mẹ đã mãn nguyện. Mấy giàn hoa xanh mơn mởn đẹp kiêu hãnh như nàng công chúa đứng trước đám thần dân. Những mùa hạ đi, những mùa hạ lại ở rừng không có cua đồng nên hoa thiên lý phải nấu với thịt lợn rừng giã nhỏ. Nó vẫn ngon làm sao, mẹ tôi nói thế. Và người còn bảo :

– Còn hương vị quê hơng con ạ !

Trưa hè miền này vắng tiếng sáo diều, tiếng ru buồn thấm thía. Mẹ tôi không đem chiếu trải dưới giàn hoa ngồi kể chuyện cho tôi ngủ thiếp đi nữa. Cuộc sống đồi núi nối tiếp từng trang dài tẻ nhạt. Mưa rừng giăng mờ muôn ngả chỉ làm cho tôi hậm hực trên nhà sàn. Và mỗi chiều nắng rớt rơi đọng trên cây lá thay mầu cảnh vật cũng chẳng làm tôi say mê. Tôi đã biết cảm thế nảo là tình quê hương.

Ít lâu sau công việc làm ăn thất bại, nắng dữ dội quá nên cà-phê, chè chết khô chết héo, cha tôi phải nhường quyền cho người khác trông coi rồi đem gia đình về Hà-Nội.

Tự đấy, cha tôi thay đổi tâm tính, thường kiếm cớ mắng mẹ tôi tuy mẹ tôi rất mực hiền hòa. Nhiều lần cha đi chơi mấy ngày mới về, mẹ tôi chỉ khóc âm thầm và để quên chuỗi thời gian mong đợi cha tôi hối hận, mẹ tìm vui bằng cách trồng thiên lý cho nó leo lên tường. Nhưng có một đêm nọ mẹ khóc nức nở, sáng hôm sau sưng cả mắt. Cha tôi đã bỏ vợ con bơ vơ đi theo tiếng gọi sông hồ. Cảnh chim vỗ cánh tung bay biết khi nào mới trở về tổ cũ. Mẹ tôi chợt nghĩ tới chân trời quê hương im lặng như giòng sông Trà-Lỷ cuối mùa thu, người đưa hai anh em tôi về nối lại tháng ngày êm ái cũ.

Tôi được sống với họ hàng bên ngoại nhởn nhơ cả ngày thả diều, câu cá. Mẹ tôi dạy anh em tôi học. Tôi lớn dần trong sự chiều chuộng, trong sự bình thản mơ màng của mẹ tôi. Tâm hồn tôi đã ướp chung với hoa bưởi, hoa nhài, hoa lý. Tôi chỉ muốn đời đời sống trên mảnh đất làng quê bên cạnh những cuộc đời giản dị biết thương yêu nhau thành thực như tình khoai lúa. Mộng ước chỉ cỏ thế nhưng sao dệt mãi chưa thành hay mình cứ dối lòng mình mả đuổi theo sóng gió của đại trùng dương ?

Mẹ tôi bây giờ hay thở dài. Chiều chiều mẹ đứng bâng khuâng bên giàn hoa thiên lý ngoài ngõ lơ đãng nhìn mây trôi. Lúc ấy là lúc mẹ lôi cảm nghĩ đến kỷ niệm thiêng liêng nhứt của đời mình.

Cuộc sống của chúng tôi bắt đầu chật vật. Cha tôi vẫn chưa về. Mẹ tôi tính từng ngày một, cha tôi đã đi tròn năm rưỡì. Hoa bưởi rụng cuối vườn rồi héo khô tàn tạ, người nghèo hết cả thì giờ nghĩ vẩn vơ nên mẹ tôi không nhặt hoa sâu vào giây đeo lên cổ cho tôi nữa. Tôi cũng biết theo mẹ ra đồng nhặt từng bông lúa còn sót khi lưỡi liềm mẹ nhẹ ngon ngốn từng nắm lúa ruộng nhà. Không ai thèm than thở. Tình đời luôn luôn thắm nở thì lòng mình sao chẳng cởi mở cho hy vọng tràn đầy. Mẹ tôi vất vả tháng ngày song vẫn dành riêng chút ít thì giờ quý báu dậy em tôi đánh vần dưới giàn thiên lý buổi trưa, và bắt tôi học thuộc lòng những bài thơ nho nhỏ. Sau mỗi buổi học tôi hay hỏi :

– Cha con đi đâu hở mẹ ?

– Đi xa lắm, xa lắm.

Mẹ tôi trả lời thế và cặp mắt mọng đầy nước cho đến khi không thể cầm được, mẹ ôm em tôi mà khỏc. Tôi thương mẹ tôi quá cũng vội òa lên khóc nức nở làm mẹ phải an ủi :

– Sang năm ba con về. Nín đi, mai hãy khóc, khóc nhiều hôm nay đau mắt đấy.

Quê ngoại nhà tôi nghèo nàn lắm nên dù sống với bà tôi, mẹ tôi đã phải trải qua tháng ngày dầm sương dãi nắng. Anh em tôi thiếu thốn đủ bề.

Hoa thiên lý chĩu nặng cả giàn bây giờ mẹ đành lòng hái xuống đem đổi lấy cua về nấu canh hay bán lấy vài hào chỉ mua cho con cái bánh đa hoặc mấy viên kẹo vừng. Một buổi sáng tôi trông thấy mẹ tôi trèo lên cây sung ở bờ ao trước ngõ hái mấy chùm xanh chát xuống lấy muối chấm ăn ngon lành lắm. Đến trưa mẹ ôm bụng kêu đau. Bà ngoại tôi phải xin dầu con hổ và nướng ông đầu rau chườm mãi mới khỏi. Mẹ tôi cố dấu kín chuyện ấy. Sau này tôi khôn lớn, gia đình khá giả, mẹ mới chỉ riêng cho tôi nghe :

– Vì mẹ đói quả, mẹ tưởng ăn sung cầm chừng ai ngờ nó hành hạ ghê gớm. Từ bận ấy mẹ sợ.

Kỷ niệm chua chát ấy tôi còn ghi nhớ. Đôi khi vọng về dĩ vãng tôi không khỏi ngậm ngùi thương cảm. Hai năm sau cha tôi hồi hương, cánh chim đã mỏi thì phải về tổ củ mà xây dựng lại những gì mất mát hôm qua. Vợ chồng gặp nhau, mẹ tôi vẫn khóc như ngày cha tôi bỏ nhà ra đi. Sung sướng hay đau khổ người đàn bà chỉ biết dùng nước mắt để giải tỏ nỗi niềm. Cha tôi về đem theo bệnh đau mắt khá nặng và một con dao rừng. Ngày đêm, mẹ chăm lo bệnh cho cha tôi. Nhờ sự săn sóc ấy vài tháng sau cha tôi khỏi. Tự đấy cha tôi không đi đâu nữa. Cha thường kể cho tôi nghe chuyện đường rừng. Hễ có dịp thuận tiện cha lại đem con dao ra khoe :

– Tốt lắm, của người bạn Thổ tặng cha đấy.

Con dao quý ấy đã tự cha tôi đào lỗ trồng mấy khóm cây. Có lần tôi thấy cha mẹ tôi nói chuyện với nhau rất lâu dưới giàn thiên lý xa xưa. Những chùm hoa nấu với cua đồng lại ngọt ngon hơn cả bao giờ.

Giòng thời gian lặng lẽ trôi nhưng cuộc đời không êm ả chảy xuôi như nước sông Trà-Lý cuối mùa thu nữa. Tôi đã lớn hơn xưa đã phải chứng kiến những trận giông tố, những cơn sóng lớn phũ phàng trùm lên mái nhà êm ấm. Gia đình tôi trở về quê nội để rớt rơi bên ngoại từng miếng nắng cô liêu của những chiều xưa thân mến. Mẹ tôi lại bắc giàn trồng hoa thiên lý ngồi kể chuyện quê hương cho anh em chúng tôi nghe. Em tôi thường ngủ đi như thuở nào tôi ngủ nhờ hơi thở êm đềm ấy. Đắm chìm trong niềm im lặng muôn đời của thôn ổ, tiếng mẹ tôi tha thiết rót vào tai tôi thay vì tiếng ru êm ái ngày xưa làm cho lòng tôi càng ngày rộng mở, mắt tôi càng ngày càng thắm sắc mộng mơ. Tâm hồn tôi dào dạt tình cảm, cái gì cũng gợi tôi say đắm, từ chiếc ảo nâu thô lỗ đền mảnh áo nâu ố mầu bùn, từ cái cầu ao chênh vênh đến túp lều tranh xơ xác. Tôi bắt đầu suy cảm về số phận loài lá vàng chết rụng mỗi thu về và những con cuốc kêu rỉ rả suốt mấy tháng hè nóng bức. Và hôm nay nếu ai có tò mò hỏi rằng tại sao tôi cố níu tiếng đàn bầu, cố níu tiếng kèn đưa đám ma, cố níu tấm áo nâu non giải thắt lưng xanh, cố níu tất cả hình ảnh cũ kỹ đã bị chôn vùi xuống lòng đất quê hương mà hối tiếc, tôi sẽ trả lời sao đây ?

Sợi dây luyến ái như tơ trời giăng mắc nhè nhẹ buộc chặt, buộc chặt lấy tim mình ai mà hiểu tự giây phút nào nút dây đã thắt lại. Chuyện yêu thương không biết nghĩa để giảng giải, như hoa thì thơm, hương thì phải ngạt ngào, trăng thì sáng và sao thì lấp lánh. Dù sao thì tôi cũng nông nổi dám nói rằng chính ở giàn hoa thiên lý mẹ tôi đã dạy tôi bài học đầu tiên về tình người.

Năm mười sáu tuổi, dần dần tôi cứ thấy xa mẹ. Con chim non biết ra ràng rồi đây, ngày kia nó sẽ bay mất để mẹ nỏ gục trên tay gầy mà thương về viễn phương mưa gió. Mẹ tôi chừng hiểu ý nghĩ đó nên một chiều tháng hai hoa gạo rụng đỏ nát mầu máu lên đường làng, mẹ dẫn tôi đi khắp hang cùng ngõ hẻm, qua mấy nhịp cầu tre, cầu đá. Mẹ chỉ vào bụi tre còm tơi lả, bức tường đất xiêu vẹo. Mẹ dừng chân bên dòng sông nhỏ bé, lặng ngắm mái đình cong cong, con trâu gầy ốm, cánh đồng xanh xanh mả giảng giải vu vơ. Sau cùng mẹ dắt tôi lên đầu làng ăn canh bánh đa nấu với cá rô rồi hai mẹ con về ngồi dưới giàn hoa lý. Mẹ mở đầu câu chuyện bằng lời nói bâng khuâng :

– Giá ở đâu cũng có hoa lý. Ừ, hoa lý đơn sơ lắm, hương thơm chỉ phảng phất mà tưởng như bền chặt đến muôn đời.

Lúc ấy âm hưởng sáo diều đã lên mênh mông. Nắng đang thoi thóp nhuộm mầu cảnh vật. Từ xa xăm vọng lại tiếng con nghé lạc mẹ, tiếng thời gian chìm chìm. Tôi nín thinh không dám phá tan sự im lặng để mặc tâm tư lơ lửng tựa tơ trời. Mẹ ngồi yên, ánh mắt sầu cảm lạ lùng. Những tia mắt hiền hòa của thời thơ ấu vẫn còn lắng trong suối mắt vô tận kia sao tôi chẳng thấy mà chỉ nghĩ tới sự buồn thương xâm chiếm lòng mình. Phải, tôi lớn rồi. Hôm qua hay hôm kia, mẹ tôi dậy tôi làm thơ. Mẹ chả bảo tình yêu phải có u sầu mới đẹp là gì. Ít ra tôi cũng dám nhận làm thi sĩ. Cho nên chuyện tưởng tượng đôi mắt của mẹ tôi đừng ai lạ. Trông chiều xuống vội vã, tội khẽ gọi mẹ. Mẹ tôi giật mình, âu yếm nhìn tôi :

– Long này, mẹ muốn kể cho chú (lúc này mẹ gọi tôi bằng chú) nghe chuyện giàn hoa thiên lý. Mẹ phải đợi đến hôm nay vì chú đã lớn, chú có thể bỏ nhà ra đi bất cứ lúc nào như cha chú hồi còn trẻ. Lủc nãy đưa chú vào lòng quê hương, sau này chú sẽ hiểu tại sao mẹ làm thế. Bây giờ thì Long lắng tai nghe nhé !

Mẹ tôi thong thả lập lại vài trang dĩ vãng viết tự mười mấy năm về trước, nhập đề là ngày xưa. Vâng, ngày xưa khi tâm hồn mẹ còn phơi phới, mắt đen chưa vẩn chút bụi đời, tóc xanh chưa một lần bối rối, mẹ tôi đẹp ai cũng khen nhưng không ai dám thương, dám ấp ủ linh hồn yếu đuối ấy trừ bà ngoại tôi. Ồ, có gì lạ đâu, tại mẹ tôi bị bệnh lao, cái bệnh gia truyền khốn nạn. Khi mắt mẹ phảng phất khói hương mơ mộng thì lại là lúc phải khóc nhiều vì cô độc đau thương. Pháo cưới thi nhau nổ nát tan lòng mẹ. Mầu áo đỏ, áo xanh bỗng nhiên ngả mầu tang tóc như muốn liệm chung cuộc đời người con gái chưa đầy hai mươi mùa xuân. Những con bươm bướm đa tình chẳng chịu ghé hoa vườn thuốc độc nên mẹ già cỗi và gần như xa hẳn nhân gian. Mẹ tôi buồn thảm oán hờn. Chiều chiều mẹ đứng ngắm mây trời đổi sắc dưới giàn thiêu lý ngoài ngõ đợi ngày yên ngủ dưới mồ. Một hôm có chuyến đò ngang chở hồn biệt xứ qua bến làng Thanh-Triều rồi chí lớn thiên hạ bỗng dừng lại bên giàn hoa, coi dặm đường xa là vô tận. Hồn biệt xứ là cha tôi. Cha tôi ngỏ lời chắp duyên cùng mẹ. Mẹ tôi khóc lóc chối từ, mẹ nói rõ bệnh tình cho cha tôi biết. Cha tôi không cần phải so đo, người nhất định lấy mẹ tôi dù kết quả có tái tê đau đớn. Mẹ tôi cảm động chết ngất trong đôi tay người yêu. Rồi cha tôi lo chữa chạy, rồi lòng mẹ nhóm lên ánh lửa tin yêu Mẹ tôi lành mạnh nhờ thuốc thang nhưng phần lớn là nhờ lòng thương yêu của cha tôi. Mẹ tôi ngừng lại mỉm cười :

– Chú cỏ dám tin không ?

– Tin gì hở mẹ ?

– Tin rằng người ta sống bằng tình thương và người ta chết đi rất đỗi nghẹn ngào nếu chưa hưởng được chút thương yêu trong trời đất, như mẹ chẳng hạn.

– Có mẹ ạ !

Mẹ kể tiếp. Cha tôi tạm bỏ mộng sông hồ, dừng chân bên quê ngoại nhà tôi để phả vào tai mẹ những âm điệu vui vui, buồn buồn, phả vào hồn mẹ những vần thơ bồng bế nhất của tình yêu không giới hạn. Cha tôi dậy mẹ tôi tất cả nỗi niềm tha thiết, trao cho mẹ tôi trọn vẹn gia sản tinh thần của một người quê hương biết thương yêu nhau, sau này hòa với suối mộng mơ của mẹ, mẹ truyền cảm cho anh em tôỉ. Kỷ niệm ấy gợi hình tự giàn hoa thiên lý quê ngoại nên mẹ tôi thích trồng thứ cây dịu dàng bất cứ ở đâu : rừng đồi, thôn ổ, phố phường.

– Chú có hiểu không ?

– Chuyện hết rồi ư mẹ ?

– Ừ.

– Sao ngắn thế mẹ, con tưởng dài ghê lắm.

– Nói bao giờ cho hết được, chú cố tìm hiểu nhiều hơn. Mẹ chỉ tóm tắt thế thôi. Nay mai chú ra đi và chiều nào chú sẽ gặp một con bé dưới giàn thiên lý. Chuyện thương yêu ai kể hết, ai biết hết mả kể.

– Khó quá mẹ ạ !

– Dễ mà. Khi nào ở phương trời xa lạ chú đáp chuyến tầu ba mươi tết xuống một bến quen rồi tha thẩn chú chẳng biết về đâu, lúc ấy chú sẽ hiểu tình thương. Khi nào lòng chú se sắt, chú thấy chú bơ vơ, thiếu điều gì khó diễn tả chú sẽ hiểu tình thương. Hay khi chú thấy người đồng loại đau khổ, nghẹn ngào chú nhỏ lệ cúi xuống hôn trán em nhỏ mồ côi, âu yếm dắt tay người thợ cùng bước trên đường chú sẽ hiểu tình thương. Còn nữa, còn nữa tình thương rất diệu vợi và khó đo lường. Chú sẽ hiểu chú nhỏ ạ !

– Nhỡ con không hiểu ?

– Nhảm nào, chú phải hiểu, chú phải nói lên bằng lòng chú, bằng nước mắt của chú, tô lên những trang thơ trịnh trọng mà mẹ dạy chú niêm luật hôm nào. Nhưng cậu cả này, bao giờ khăn gói cho mẹ biết đấy nhé ! Mẹ không ngăn cấm chú đâu, chim đầu đàn phải bay dò đường cho các em chứ. Mẹ sẽ dặn chú điều nảy… Thôi đi vào.

Mẹ còn muốn dặn điều gì ? Mà sao mẹ vội nghĩ đến ngày tôi bỏ nhà ra đi. Đêm ấy tôi băn khoăn suy cảm. Hương thiên lý phủ kín tình tôi rạo rực như lần nhìn cảnh chim lạc bầy bay về viễn xứ. Ngày tháng rụng rơi nối tiếp, mẹ tôi vẫn trồng thiên lý và những trưa mùa hạ, cua đồng nấu với chùm hoa vẫn ngọt ngon. Cho đến năm tôi hai mươi tuổi thì lời dự đoán của mẹ hiện hình. Than ôi ! Tôi đã nói dối mẹ tôi vì ngày tôi đi giặc cướp ở rừng núi tràn về nhiều quá, vì tôi đi xa xôi lắm. Đêm giã từ mẹ, tôi đứng bên thềm nhà lắng tai nghe ngóng. Tim tôi đập mạnh, nước mắt đầm đìa. Tôi run run gõ cửa, mẹ tôi ra. Tôi chùi vội nước mắt hỏi nhỏ :

– Em Dực về chưa mẹ, lúc nãy con đưa em về.

– Thế à, em ngủ rồi chú ạ !

– Thưa mẹ… Mai… con đi…

– Đi đâu, chú tính giang hồ chăng ?

– Con đi dự lớp huấn luyện hai ngày.

– Mẹ cứ tưởng… Mang chăn đi kẻo lạnh. Chú có cần tiền tiêu mẹ đưa cho ?

– Không mẹ ạ ! Khuya rồi mời mẹ vào nghỉ, con đi từ đêm nay.

Mẹ tôi trở vào. Mẹ lê guốc lẹp kẹp. Tôi ngờ rằng đó là tiếng nứt rạn của hai trái tim. Có tiếng mẹ thở dài và tiếng đặt mình nặng nhọc xuống giường.

Tôi đứng trơ như gỗ, sức gì thiêng liêng níu chặt lấy chân tôi. Tôi muốn chạy nhưng khó khăn quá, khó khăn như chạy sự ghê rợn trong giấc chiêm bao. Khi chợt tỉnh tôi băng mình đi, đi không hành lý, không lời từ biệt không người đưa tiễn.

Ba bốn năm trời lưu lạc miền Nam, cử mỗi lần gió heo may rủ mùa thu sang thì lòng tội lại nao nao sầu cảm. Cuộc sống lần hồi của tôi trôi dạt nhiều nơi, ở đâu cũng chỉ đan dệt bằng u buồn chán nản. Mắt tôi ngây dại, tóc tôi bụi đời phủ kín. Tôi vẫn đi và thường băn khoăn tự hỏi tại sao người ta cứ phải suy cảm, người ta cứ giới hạn, người ta không chịu mở rộng cánh cửa tim đón tự muôn phương những luồng gió yêu thương thắm thiết hay trao tặng muôn phương những tiếng nói tâm tư cho kẻ khác tin cuộc đời. Tôi muốn hủy bỏ hai tiếng nghi ngờ, hai tiếng do dự nên có lần trót dại theo “đàn anh” đi làm cách mạng ở rừng đồi. Chao ôi ! Tôi đã khóc trắng mấy đêm để mang cái thân hình tiều tụy về thành phố sau thời gian thua nhẵn nửa số mộng mơ. Lòng tôi càng ngày càng khát vọng tình yêu. Tôi đã hiểu sức thiêng liêng và quyến rũ của nó và tôi thấy nhớ mẹ tôi quá…

Giàn thiên lý quê nhà giờ đây héo khô tàn tạ. Loài ve sầu không rủ rê mùa hạ sang nữa nên họ hàng nhà bọ ngựa cũng chết hết vì buồn. Ở ngoài ấy người ta ngăn cấm không cho ai buồn, không cho ai nhớ, không cho ai thương nhau thì dễ gì mẹ tôi đã được ngồi duới giàn hoa mà kể chuyện cho em tôi nghe. Thì dễ gì có phút giây mẹ nằm tưởng tượng bão táp ngoài trời thấy con chim nhỏ lạc bầy dạt trôi thảm hại.

Tôi buồn, tôi muốn khóc khi nghĩ rằng chiều nào người ta bắt mẹ tôi nhổ hoa lý, phá giàn tre để trồng ngô khoai chẳng hạn. Mẹ tôi sẽ chết khô héo trên mảnh đất xác xơ đầy những oán thù. Không biết mẹ tôi có giận tôi, có ân hận vì chưa dặn tôi thêm một điều gì không ? Riêng tôi, tôi hơi tiếc số mộng mơ thuở ở rừng đồi. Biết đâu mẹ tôi chả dặn cái điều liên quan đến việc ấy.

Tôi đi tìm thương yêu trong mầu hoa lý, đi tìm những bà mẹ biết kể chuyện tâm tình, đi tìm cô bé thả mắt trong nơ dưới giàn cây. Tôi chưa gặp ai cả. Tình thương nhân thế còn se sắt lắm. Nhưng nắng miền Nam ấm áp, đất miền Nam trồng cây gì cũng có trái vậy nên tôi cố gắng ươm cây Hy Vọng và quên rằng minh đang sống cùng cực, nghẹn ngào, thiếu từ đốm lửa gia đình đến mảnh áo đẹp. Tôi sẽ đi nữa, sẽ cầu xin từ ánh mắt tìm hiểu của người quê hương để tưới vào hàng cây Hy Vọng cho hoa nhân ái thắm nở rợp trời.

Bao giờ rừng cây yêu thương đơm trái, người quê hương sẽ về giành lại đất quê hương và tôi phải gặp cô bé dưới giàn cây bâng khuâng ngồi đếm giệt hoàng hôn rơi trên sóng tóc. Khi hồi cư chúng tôi lấy nhau. Tôi sẽ đưa vợ tôi sang quê ngoại chỉ cho vợ tôi dấu vết giàn hoa thiên lý xa xưa. Vợ chồng tôi bắc giàn trồng hoa, chiều chiều tưới nước vào gốc cho chóng lớn. Đợi đến lúc lá theo cành leo kín đầy giàn thì loài ve sầu lại rủ rê mùa hạ sang thì họ hàng nhà bọ ngựa lại tha thẩn cả ngày leo bò trên mầu xanh muôn thuở. Tôi ngồi dưới giàn kể chuyện “Chuyện hoa lý của Mẹ” cho vợ tôi nghe. Vợ tôi phải nhớ để kể cho con tôi nghe sau này. Làng xưa đẹp lên mầu áo nâu, rộn ràng lên tiếng kéo cưa xẻ gỗ làm đình. Tôi tập làm ca dao ví von những câu thương yêu với mầu xanh hoa lý dìu dịu, nhẹ nhàng, lơ lửng tự ngàn xưa đến tận ngàn sau.


Đại Dương Trong Lòng Con Ốc Nhỏ. Duyên Anh

Posted on February 29, 2016
bia_cononBến đò Đồng Đức càng ngày càng nhiều khách tới lui. Bây giờ không còn mùa đông mưa phùn rây mờ sông nước, không còn họ hàng lũ ruồi nhặng sợ rét, lười biếng đậu trên sợi dây lòng thòng để treo chuối, treo ngãn bám vào liếp, vào tường tròn ba tháng rét mướt đìu hiu. Dân thành phố tản cư về đồng ruộng. Họ mang theo niềm vui và cuộc sống mới mẻ khiến quê ngoại nhà tôi tấp nập, ồn ào. Nằm nghe tiếng chim cu gáy buổi trưa, tôi cảm thấy bớt buồn tẻ. Kỷ niệm tràn lụt đầu óc tôi bằng những bộ mặt sáng sủa, những điệu cười hồn nhiên của đám trẻ nhỏ thành thị trạc tuổi em Mai. Tôi nghĩ, giá anh em tôi không phải sống hẩm hiu ở quê ngoại thì lúc này đây, chúng tôi cũng biết tung tăng dắt tay nhau chuyện trò dưới ánh trăng đồng nội. Chứ đâu chịu lạc lõng trong đêm tối, nhìn bóng mẹ gầy yếu run rẩy cơ hồ chiếc lá sắp lìa cành. Bất giác, tôi nhớ cha tôi và nước mắt phủ mờ…

Mẹ tôi bảo thoạt tiên cha tôi đánh đàn thập lục cho ban hát cải lương lưu động. Dạo ấy danh từ nghệ sĩ còn xa lạ nên ông bầu coi cha tôi ngang chức anh lao công. Làm việc từ tám giờ tối tới hai giờ khuya. Tiền thù lao dè xẻn mới đủ nuôi một vợ, một con. Trong gánh hát, cha bị bạn đồng nghiệp chê bai tài đàn non nớt hay tâu hót với ông bầu vài điều lầm lẫn của cha tôi. Thì cha tôi hậm hực nguyền rủa thói đời đen bạc. Chán rồi, cha tôi trách ông phó Nhị. Giá ông phó truyền đủ ngón trứ danh, chắn chắn sự nghiệp cha tôi đỡ méo mó. Tôi cố mường tượng cái cảnh hậu trường sân khấu giữa mùa hè nóng nực, cha tôi cởi trần biểu diễn tài nghệ, dìu điệu ca cho đào kép ngọt giọng. Mồ hôi, có khi cả nước mắt, rơi rụng trên mười sáu sợi tơ đồng đổi miếng cơm hẩm manh áo thô. Về sau có lần giận đời, cha tôi đập đàn giải nghệ.

Khi tôi hiểu biết, thấy đời cha tôi lẩn quẩn trong hai câu thơ của bài hát nói cha tôi khai bút nhân dịp năm mới: “Ông Lái thuốc bắt đầu, ông Phó, ông Ký, ông Chủ, ông Thầu, ông Lang…” Mỗi chuỗi nghề nghiệp quàng vào cổ cha tôi. Lên voi xuống chó, xuống chó lên voi… Tội nghiệp cha tôi, người còn chút tâm hồn để không nỡ gọi tài đánh đàn là nghề kiếm cơm.

Từ ông lái thuốc bắc đến ông lang băm chế thuốc cao đan hoàn tán. Chao ôi, tôi phải viết thế nào đây cho thật linh động từng cảnh cha tôi ngồi chế thuốc cam bằng thuyền gang, ngồi thái thuốc sống bằng dao cầu, ngồi sao thuốc bổ bằng nồi rang đất và hoàn và viên thuốc tễ? Làm sao ai chứa chất được trọn vẹn ngần kia mẫu đời. Thế mà cha tôi, trời ơi! Tôi muốn làm một khán giả vô tư nhỏ lệ tiếc thương gã nghệ sĩ sinh nhầm xứ sở.

Có bận túng bấn quá, cha mẹ tôi phải chia nhau mỗi người một chợ đem thuốc hoàn, thuốc tán trị các bệnh cam sài thai đẹn, ho hen, giun sán ra bày ngổn ngang trên manh chiếu hẹp dưới quán chợ. Mẹ tôi bán quanh quẩn mấy chợ gần miền bể như chợ Tiểu Hoàng… Sáng sớm mẹ đi, xế chiều mẹ về săn sóc anh em tôi. Còn cha tôi xách chiếc va ly lớn lễ mễ sang mãi tận Thần đầu, Thần huống. Cha tôi đi hàng tuần mới trở lại, nói là vừa bán thuốc vừa thăm dò xem bên sông Trà Lý có dễ kiếm ăn thì cho gia đình sang.

Những chuyến cha tôi vắng nhà, mẹ tôi xuôi ngược tần tảo, anh em tôi nương bóng nhau cầu nguyện. Nghe mẹ tôi bảo sóng sông Trà dữ tợn. “Sóng cửa Trà, mà cửa Hộ”, em Mai chỉ sợ phà đắm.Tôi dỗ dành em tôi rằng cha tôi sống tới tám mươi tuổi để xem anh em tôi khôn lớn. Em Mai thường khóc tỏ vẻ lo ngại. Khốn nạn, cha mẹ tôi nghèo nàn, còn tình thương mến nhưng tình thương mến không nuôi sống được con nên muốn con no lành đã phải xa con, cực nhọc. Tôi cứ nghĩ đến lúc cha mẹ tôi ngồi dọn hàng khi chợ chiều tan vắng. Ánh nắng vàng vọt quê mùa chiếu vào khuôn mặt thê thảm vì nhớ con, vì ế hàng của cha tôi chắc đau thương lắm.

Ít tháng sau cha tôi bỏ nghề lang thuốc. Cha tôi sắm ít dụng cụ chữa xe đạp. Người ta đặt tên mới cho cha tôi: ông Phó. Cha tôi sửa chữa, lau dầu, vá chín, vá sống săm lốp xe đạp, xe tay. Nếu ai cần tô điểm xe mình thì cha tôi cũng biết sơn xì, sơn hấp, mạ kền bằng… ngân nhũ. Nhiều lần nhìn cha tôi nghiến răng vặn cái ốc lâu ngày thiếu dầu mỡ, lòng tôi thắt lại. Tay cha tôi mạch máu nổi bật, chằng chịt. Có khi “lắc lê” nhờn, tuột mạnh bật tay ra. Cha tôi mất đà, chúi về một bên. Thường thường, tay cha tôi bị xước da, máu chảy ri rỉ. Cha tôi mải mê công việc không để ý, đưa tay vuốt mấy sợi tóc lòa xòa trên trán. Máu ở vết thương được dịp hòa với mồ hôi… Nhưng cha tôi nín lặng không kêu ca, không than vãn, không kể lể với vợ con. Sự nín lặng đó tôi đã khổ tâm học hỏi song tôi thấy tôi thất vọng. Vì, cho tới ngày nay, hễ gặp bất cứ con rắn độc cuộc đời nào, dù lớn dù nhỏ, cắn đau hay cắn hụt, tôi vẫn thích tìm người băng bó hộ.

Tò mò, tôi hỏi cha tôi học nghề sửa xe bao giờ, cha tôi mỉm cười: “Cái khó sinh ra cái khôn con ạ!”. Tôi nghi ngờ rồi phỏng chừng cha tôi học lỏm hay cha đã từng làm thợ phụ cơm nhà việc người. Lại thêm hình ảnh thui chột của chú “học nghề” nữa!

Hồi gia đình tôi ở Hà Nội về Thái Bình rồi dọn xuống miền bể, em Mai bé bỏng nên em chưa cảm được nỗi buồn biển động cuối mùa đông. Dường như, bể giận dữ tận ngoài khơi bãi Đồng Châu. Tiếng gầm gừ vọng tới nghe ghê rợn. Cha tôi khởi nghiệp chữa xe tại đây, tại ngã ba chợ huyện Tiền Hải, dưới gốc cây gạo to lớn, sù sì, gai góc. Những buổi chiều rét mướt, cha tôi ngồi co ro khâu mép lốp đứt “tanh” hay phồng mang trợn mắt thổi than hồng trong lò máy vá chín. Cha tôi nhặt nhạnh từ năm hào bơm thuê cho anh phu xe tay, chẳng nề hà việc dầu mỡ. Bởi vậy, cả sau lúc ngưng làm để vuốt ve anh em tôi, tay cha tôi, dẫu rửa sà phòng, vẫn còn đầy vết dầu lem luốc. Em Mai hay kéo đôi tay cha tôi đùa bỡn:

– Tay cha tôi đen như nhọ nồi.

Cha tôi cười:

– Trắng như bông mà con dám bảo đen. À, đố con biết tại sao tay phải cha dài hơn tay trái?

– Con chịu.

– Tại tay phải cha vặn “lắc lê”. Cha vặn mạnh quá nên xương nó giãn ra.

Em Mai ngớ ngẩn:

– Con không thích tay phải cha dài đâu, cha làm cho nó ngắn bằng tay trái đi cha. Có được không hở, cha?

Cha tôi suy nghĩ giây lát, đoạn vỗ về em:

– Khó gì, rồi cha bỏ vặn “lắc lê” thì nó hết dài.

Tôi thương cha tôi, dĩ nhiên, nhưng thương bao nhiêu mới vừa? Cha tôi ít nói. Chắc chắn nỗi ray rứt vì mẹ con nheo nhóc ám ảnh cha tôi, làm cha tôi uất nghẹn: sự uất nghẹn của người không câm song không nói được. Dạo ấy, gạo kém, mẹ tôi phải chạy vay đong từng bữa một. Thoạt đầu, sáng ăn cầm dạ, chiều ăn no. Sau, sáng cha mẹ tôi nhịn chỉ thổi niêu nhỏ cho anh em tôi. Em Mai ăn xong còn thòm thèm. Cha tôi nhìn em, mắt đỏ ngầu. Mẹ tôi chạy vội xuống bếp. Tôi thương hại em, tập nhịn để em được ăn nhiều. Hôm thứ nhất, em bảo tôi:

– Sao anh không ăn?

Tôi nói dối:

– Tại anh đau bụng.

Em tôi tưởng thật:

– Thế em để phần anh vậy nhé?

Tôi cười xua tay:

– Đau bụng ăn cơm nguội thế nào được. Em ăn đi, ăn nhiều chóng lớn.

Hôm thứ hai, tôi cũng bỏ bữa sáng ân huệ của con nhà nghèo. Em tôi hỏi han vớ vẩn. Tôi phải trả lời tôi ăn sáng với em thì trưa ăn mất ngon. Nghĩ sao, em tôi giận tôi, em chẳng thèm ăn nữa. Em bắt chước nhịn đến trưa. Mẹ tôi mắng em. Em khóc, em kêu đau bụng. Như thế, em tôi hiểu chuyện rồi. Em tôi rủ tôi ra đường cái, ghé sát vào tai tôi thì thầm:

– Thật anh nhỉ, ăn bữa sáng, trưa ăn mất ngon.

Chúng tôi nhìn nhau. Chua xót. May mắn là tình cảnh ăn đong thiếu thốn rất ngắn ngủi. Gạo dần dần hơn. Nhà tôi lại tiếp tục hai bữa no nê. Đấy là những câu chuyện buồn của gia đình tôi. Nhưng chuyện khiến tôi nhớ mãi là chuyện sau đây:

Hôm cha tôi đang đánh nháp miếng lốp nổ thì một bà sang trọng tới gần. Bà ta nhìn cha tôi lúc lâu rồi mới ngại ngần hỏi:

– Bác làm ơn chỉ giùm tôi ông lang…

Bà ta quên tên ông lang. Cha tôi ngừng tay, lễ phép nói:

– Thưa bà, bà cho biết tên ông lang là gì ạ?

Móc trong túi mảnh giấy nhỏ ghi bút chì lờ mờ, bà ta lẩm nhẩm đọc:

– Ông Mai Viên bác phó ạ! Bà bạn tôi mách rằng ông Mai Viên chữa bệnh giỏi. Tôi từ phủ Kiến Xương xuống xin ông cái đơn. Bà bạn tôi trước là chỗ quen thân ông Mai Viên.

Như cái lò xo, cha tôi đứng thẳng dậy, trịnh trọng giới thiệu tựa hồ anh hề trên sân khấu giây phút sắp mở màn.

– Thưa bà… tôi là Mai Viên…

Bà khách lạ tròn xoe mắt. Bây giờ, cha tôi mới kịp để ý cái hình hài tiều tụy của lão phó chữa xe đạp dưới gốc cây gạo ngã ba chợ huyện Tiền Hải. Quần đùi đen, áo sơ mi ngắn tay nham nhở dầu mỡ mồ hôi. Chân tay sần sùi, thô lỗ… Còn giữ được đôi mắt, vầng trán rộng. Nhưng xấu hổ quá, tê tái quá, đôi mắt vội mờ đi và vầng trán lâm râm những giọt mồ hôi, những giọt mồ hôi tình cờ toát ra một buổi trời lạnh nhất. Cha tôi cúi xuống, nói rất nhỏ:

– Thưa bà tôi giải nghệ… lang thuốc rồi. Song nếu bà…

Cha tôi muốn nói thêm “nếu bà bỏ qua hình ảnh bác thợ chữa xe thì tôi sẵn lòng tiếp bà”. Khốn nỗi, dù đã từng phen trầy trụa với cuộc đời, cha tôi vẫn tự ái để cứu vãn chút liêm sĩ tuy chẳng cần cứu vãn. Bà khách hình như cảm thông sự lên bổng xuống trầm của kiếp người, bà ta ngượng ngùng mãi mới thốt gọn ba tiếng “xin lỗi ông”. Cha tôi mời bà ta vào nhà.

– Bà ở phủ Kiến chắc quen gia đình ông Phán Lâm?

– Thưa ông, bà Phán chỉ đường tôi mới rõ, chứ dễ chi.

– Trước kia…

– Vâng ạ! Bà Phán đã nói nhiều về ông. Tôi xin lỗi ông lần nữa vì cử chỉ vô lễ ban nãy.

– Thưa bà không hề gì ạ! Bà đừng bận tâm.

Cha tôi kê tặng bà khách ấy đơn thuốc bổ theo đúng lời viết quảng dán tường ngày xưa “xem mạch kê đơn không lấy tiền”. Khi về, bà khách rút tiền cho tôi. Tôi từ chối, bỏ chạy mất. Đêm ấy, dưới ánh đèn dầu lạc tẩm bấc thắp đĩa, đêm dầy đặc, suy tư. Tôi nghe từng hơi thở dài sầu hận của cha tôi. Bất giác, tôi òa lên khóc khiến em Mai cũng khóc. Cha tôi xoa đầu anh em tôi an ủi:

– Nín ngay con, rồi các con sẽ sung sướng.

Tôi gục đầu xuống đùi cha tôi, ôm chầm lấy thân thể gầy yếu, ôm chầm lấy tấm lòng thương mến bao la mà rên xiết.

– Cha ơi! Con thương cha.

Giọng cha tôi tha thiết, bao giờ cha tôi cũng tha thiết với vợ con:

– Thương cha thì ngủ đi, sau này đừng giống cha nhé con, giống cha khổ lắm. Nhất nghệ tinh con ạ!

Nhưng anh em tôi không ngủ. Ngọn đèn gió thổi tắt rồi. Căn nhà tối om. Anh em tôi ngồi sát nhau hơn. Chúng tôi cùng im lặng nhìn ngày mai bằng bốn con mắt mờ lệ trong đêm vắng. Khổ thân em tôi, lớn dần để xem cuộc đời cha xuống dốc thảm hại. Em tôi nắm chặt lấy tay tôi như thầm nhủ, như trao gửi niềm tin. Tôi nghe rõ tiếng nước nhỏ giọt xuống chiếu.

Một sớm tháng hai, hoa gạo nở đỏ ối và bắt đầu rụng. Cha tôi vẫn co ro ngồi dưới gốc cây. Trên đầu cha tôi đủ các loài chim thi nhau ca inh ỏi. Chợt một con bậy bạ trúng giữa mái tóc cha tôi trắng xóa. Cha tôi nhìn lên xem có phải phân quạ. Vì nếu phân quạ sẽ gặp niềm rủi ro. Khốn nạn, cha tôi vừa ngẩng mặt nhìn lên thì chiếc hoa gạo to hơn nắm tay rơi giữa mặt. May mắn, cuống hoa ngược chiều nên những cánh hoa nát bét trên khuôn mặt của cha tôi như thể cha tôi bị đạn bắn vỡ mặt. Anh em tôi chạy lại quỳ xuống, cuống quít:

– Cha có đau không hở, cha?

– Cha có mở được mắt không?

Cha tôi nói:

– Đau gì mà đau, cái hoa đó mà…

Giọng em Mai run run:

– Con thấy nó kêu đánh “bốp”. Chắc cha đau, cha nói dối. Con thì con khóc rồi. Cha đau thật hở, cha?

– Cái hoa nhẹ như bấc thì đau nỗi gì. Cha chỉ đau vì…

Tôi hỏi gặng:

– Vì sao cơ ạ?

– Vì… các con khổ sở!

Cha tôi rươm rướm nước mắt. Anh em tôi cúi đầu.

Mặc dù bé bỏng, anh em tôi cũng nhận ra hình ảnh cuộc đời cha tôi. Một hình ảnh bằng bao nhiêu hình ảnh nham nhở khắc khoải, què quặt. Tôi cầm tay cha tôi, nói nhỏ:

– Con sung sướng chứ có khổ đâu?

Em Mai cũng hối hả:

– Con chả khổ gì cha ạ!

Cha tôi mỉm cười gượng gạo:

– Các con nói dối.

Tôi nắm chặt tay cha tôi hơn:

– Lúc nào gần cha mẹ là các con sung sướng rồi.

Em Mai ôm đầu cha thủ thỉ:

– Con yêu cha.

– Yêu cha thì phải chăm học các con nhé, Hữu nhé! Nhất nghệ tinh…

Luôn luôn cha tôi nói “nhất nghệ tinh”… Tôi nhìn cha tôi, thấy má bên trái con dính chút máu hoa gạo. Đưa vạt áo lau sạch vết nhơ ấy, tôi giục:

– Cha vào gội đầu kẻo bẩn.

– Điềm may đấy con ạ! Hoa rơi là sang năm cha con mình giàu. Cha sẽ tậu nhà ngói trên tỉnh, con có cái xe đạp nhỏ đi học.

– Thế mẹ con?

– Mẹ con thì.. Ờ, ờ, khó nghĩ quá. Con chọn quà biếu mẹ xem nào.

– Mẹ con thôi bán xôi chè này, mẹ ở nhà khâu vá quần áo với lại kể chuyện ma này. Cha cho tiền con mua cái tráp đựng trầu biếu mẹ con nhá! Em Mai muốn mua biếu mẹ xâu tràng hạt để mẹ niệm Phật cha ạ!

– Ừ, ừ con muốn gì cũng được.

– Em Mai có búp bê, có ô tô, có tàu thủy, có nhiều thứ lắm. Em Mai không phải chơi đồ chơi bằng vỏ hến, nút chai…

Em tôi thích chí cười hớn hở. Đôi má núm đồng tiền xinh xinh tệ. Em làm nũng:

– Áo con rách rồi, cha mua áo cho con trước nhất cha nhé.

Cha tôi bỗng giật mình. Đôi mắt đang sáng rực mộng ước, phút chốc mờ đi, buồn. Cha tôi ngắm anh em tôi rồi khẽ gật đầu nói nhỏ:

– Ừ, mai cha mua áo cho con.

Hôm sau, nhằm ngày phiên chợ, cha tôi bỏ việc dẫn anh em tôi đi mua áo. Chợ phiên đông đúc, cha con dắt díu nhau chỉ sợ lạc. Qua hàng nước dừa, cha tôi cho mỗi đứa uống một cốc nhỏ năm hào. Hết quán này, quán khác mà chẳng thấy cha tôi nhắc chuyện áo làm em Mai thấp thỏm. Mãi cha tôi mới kéo anh em tôi đến hàng quần áo may sẵn có vô số người xúm lại mặc cả. Anh em tôi len lọt được vào. Em Mai nhìn những chiếc áo cánh trắng rồi nhặt vài chiếc để ướm thử. Mắt em long lanh nhưng cha tôi thì nét mặt tự nhiên tái chợt, đôi tay run run cơ hồ như sốt rét. Cha tôi hỏi giá, người bán trả lời. Thêm thêm bớt bớt chán chê, rốt cuộc, cha tôi không dám nhất định vì sợ hớ. Em tôi trống ngực đánh thình thịch, nửa mừng nửa lo. Tôi biết giá có manh áo kia, em tôi hả hê vô vàn. “Già được bát canh, trẻ manh áo mới” mà. Cha tôi cũng biết thế, song người bán hàng chẳng thèm biết. Cha tôi đứng tần ngần. Tôi phỏng chừng cha tôi thiếu tiền.

Vuốt mái tóc em Mai, cha tôi an ủi:

– Hai anh em ra kia chờ cha nhé! Ra kia kẻo nó bắt bí. Thế nào cha cũng mua cho con.

Em tôi nuốt nước bọt ừng ực. Cha tôi đưa chúng tôi khuất khỏi hàng quần áo. Dặn dò xong, cha vội vàng đi. Trông theo cha, lòng tôi bâng khuâng tê tái. Anh em tôi đợi hàng nửa giờ mà cha tôi vẫn chưa trở lại. Chợ càng đông, tiếng ồn ào huyên náo. Anh em tôi không nghe rõ nữa. Tâm hồn em Mai hướng về manh áo, còn tâm hồn tôi thì không hiểu vì sao bối rối vô cùng. Em Mai cứ luôn miệng hỏi khiến tôi nóng ruột quá. Nắng mùa xuân hừng hực trên đầu chúng tôi. Nắm chặt tay em, tôi dìu em về phía hàng áo.

Bỗng anh em tôi thấy từ các hàng áo ban nãy người ta xô nhau giãn lối. Người bán hàng tức giận đỏ mặt lên, hét lớn:

– Ăn cắp, ăn cắp! Gớm nhanh như chớp, vừa mới quay đi mà nó đã thó mất rồi.

Tôi hoảng hồn, mắt lơ láo tìm cha. Song cha tôi không có trong đám đông trước mặt. Em Mai khóc bù lu bù loa, dỗ mãi em mới nín. Trong khi đó, người bán hàng quai mồm ra chửi bới hết lời. Hắn dọa nếu tóm được cổ kẻ cắp, sẽ đánh róc xương. Tôi chờ, chờ gần xế trưa thì ngờ rằng cha tôi lo kiếm anh em tôi và chắc chắn, đợi anh em tôi ở nhà. Tôi lớn không sợ lạc nữa nên cha tôi cũng có thể về trước. Nghĩ vậy, Tôi trở lại nhà. Anh em tôi buồn thiu, thẫn thờ bước như hai đứa trẻ ăn mày.

Về nhà, mẹ tôi bảo cha tôi bị cảm đang nằm đắp chăn rên hừ hừ. Anh em tôi xúm tới hỏi han. Cha tôi nín thinh không đáp. Em Mai sợ cha phật ý nên không hỏi đến chuyện áo mới nữa. Cả buổi chiều hôm ấy, không khí gia đình tôi nặng nề, khó thở. Đến tối, cha tôi bớt sốt, cha gọi anh em tôi tới gần xoa đầu, nắm tay như thường lệ. Cha tôi nói mua áo xong thì cha tôi cảm thấy choáng váng mặt mày, quên mất chỗ anh em tôi chờ đợi. Rồi cha tôi cắm cổ chạy về. Nghe cha kể chuyện anh em tôi vui mừng, sung sướng. Em Mai tôi hỏi:

– Cha mua áo cho con rồi hở cha?

– Ừ, đây này.

Cha tôi lật chiếu đầu giường nhấc chiếc áo ra. Em Mai vồ lấy ướm thử. Em thay áo cũ mặc áo mới vào. Em khoe tôi:

– Đẹp không anh Hữu?

– Đẹp lắm.

– Đẹp không cha?

Em Mai chợt nhớ điều gì, khuôn mặt ngây thơ nhí nhảnh phút chốc thoáng buồn. Em nói:

– Áo anh Hữu rách lưng cha ạ!

– Để phiên sau cha mua.

Tôi vội nói:

– Áo con vá được, cha đừng mua tốn tiền.

Giữa lúc ấy, mẹ tôi ở dưới bếp bước lên, em Mai níu mẹ, nũng nịu:

– Cha mua áo cho con mẹ ạ!

Mẹ tôi ngạc nhiên hỏi cha tôi:

– Tiền đâu mà cha mua áo cho con?

Cha tôi thản nhiên:

– Vay của bác Cẩm sáng sớm nay.

– Bác Cẩm đi Thái Ninh từ hôm kia cơ mà!

Cha tôi lặng thinh. Mẹ tôi không hiểu gì cũng lặng thinh. Tôi nhìn cha tôi. Cha tôi nhìn mẹ con tôi. Mắt cha tôi long lanh. Bóng cha tôi gầy gò in hình trên bức tường vôi loang lở. Có ai ngờ cái thân thể gầy gò kia lại bọc nổi tình thương yêu rộng lớn như con ốc nhỏ thu gọn cả đại dương trong lòng mà vẫn câm nín. Câm nín suốt đời. Tôi muốn ôm cha tôi, muốn xé rách làn da ngực để được nói vào trái tim cao cả của cha tôi rằng “Cha ơi! Cha vì anh em con mà phải như thế… Con sẽ làm gì cho xứng đáng sự hy sinh đó của cha!” Nhưng làm sao mà nói? Cảm xúc đã nghẹn cả lời. Tôi òa lên khóc. Cha tôi giật mình hỏi:

– Sao con khóc?

– Con thương cha.

– Nín đi… để dành nước mắt chứ chú bé. Khóc nhiều hết thì sao?

Tôi chưa nín. Vì nghĩ tới suối sầu bắt nguồn từ túp lều tranh bên gốc chuối tiêu chảy róc rách, róc rách qua hồn anh em tôi. Suối sầu này còn chảy mãi. Và còn chảy, nước mắt còn rơi, không lo khô cạn.

Sau đấy, cha tôi bị ám ảnh bởi chiếc áo ăn cắp ngoài chợ, trừ tôi, không ai rõ, cha tôi đau ốm liên miên. Tuy nhiên, cha tôi vẫn vẽ bao ước mộng. Anh em tôi mong ngày tháng lụn dần, sang năm chóng đến. Song sang năm chưa kịp đến với nhà ngói ở tỉnh, với búp bê, với tàu thủy, với xe đạp thì cha tôi nhuốm bệnh thương hàn. Tôi cố nghiến răng giữ kín chuyện nên khi cha tôi chết cha tôi vẫn tưởng sự bí mật theo cha xuống lòng mộ.

Cha tôi chết, mẹ con tôi nheo nhóc bơ vơ. Mẹ tôi năm tháng ngồi đan nỗi buồn ở bến đò Đồng Đức. Anh em tôi nhìn đám trẻ thành thị rồi vội vàng cúi gầm mặt qua sân nhà ông ngoại, làm rơi mất tuổi thơ.



Con Sáo Của Em Tôi .Duyên Anh

Posted on August 24, 2014
OLYMPUS DIGITAL CAMERASau khi cha tôi mất, gia đình càng ngày càng túng bấn, một mình mẹ tôi không đủ sức nuôi nấng hai đứa con mồ côi nơi thành thị nên mẹ đưa hai anh em tôi trở về làng cũ . Bên nội xóa bỏ tên cha tôi trong gia phả vì cha tôi xé tờ khai sinh mà ông tôi cố tình điền tên tuổi người vợ cả vào chỗ tên tuổi mẹ tôi . Ông tôi muốn gạt mẹ khỏi cuộc đời cha tôi bấy giờ và cuộc đời tôi mai hậu. Việc ấy rất giản dị như ông đã xóa bỏ tên chú Nghị vì chú mê cô đào cải lương gia nhập ban hát, lang thang rày đây mai đó. Bên ngoại từ bỏ mẹ tôi ngay từ dạo mẹ có mang ba tháng vì mẹ trốn nhà, vượt luật lệ cổ truyền, theo cha tôi làm vợ lẽ. Thành thử lớn lên anh em tôi mù mịt cả ý niệm gia tộc. Mẹ tôi thường kể rằng trước khi lấy mẹ tôi, cha tôi đã có vợ . Người vợ ấy cha tôi không yêu thương, nên bốn năm liền bà tôi cứ hoài công mong bế cháu. Ông tôi buồn phiền, thở dài thườn thượt, ông nghĩ đến nghiệp chướng xa xôi nào, lúc này sự quả báo hiện hình khiến dù con gái. Thật vô phúc. Cha tôi đi vắng luôn luôn, cha năng ở nhà ông phó Nhị hầu hạ ông để hòng ông truyền hết ngón đàn thập lục.

Cha tôi phải giặt quần áo, đấm bóp chân tay hay kiếm rượu, đồ nhắm cho ông Phó, phục dịch ông đủ điều. Rốt cuộc ông Phó vẫn giữ lại đôi ngón sở trường, ông sợ dạy hết, mai mốt cha tôi giỏi hơn ông. Bởi vậy, tài nghệ của cha tôi chưa nổi bật, và chưa đủ thời giờ nghiên cứu âm nhạc quê hương thì cha tôi đã gặp mẹ tôi. Cuộc tình duyên này làm đảo lộn đời cha và ảnh hưởng rất nhiều đến anh em tôi sau này.

Ông nội tôi biết chuyện tức sôi ruột, chửi bới cả gia đình nhà mẹ tôi. Tiếng dữ đồn tới xóm làng bên kia sông. Ông ngoại tôi đuổi mẹ tôi khỏi cửa. Bấy giờ mẹ tôi có mang tôi được ba tháng. Cha tôi lén lút gởi mẹ tôi nương náu nhờ người bà con xóm cuối thôn. Bà nội tôi thương con cả, lại nghe tin mẹ tôi có chửa nên bớt giận. Bà nội xin ông nội nhận mẹ tôi làm vợ lẽ cha tôi. Cuộc hôn nhân không giá thú. Việc tưởng vậy êm thắm. Ai ngờ ông ngoại tôi lồng lộn tìm bắt mẹ tôi, đánh đập mẹ tôi một trận tàn nhẫn. Tệ hơn nữa, ông ngoại tôi lại gọt hết tóc, bôi vôi trắng xóa đầu mẹ tôi rồi mới đoạn tình phụ tử. Mẹ tôi phải trùm khăn vuông kín mít ngót hai năm trời.

Mẹ về sống dưới gian nhà mái dột, vách bùn trát nham nhở bên cạnh chuồng trâu của đại gia đình họ Nguyễn nhà tôi. Suốt thời gian đèo bòng cái hình hài tôi, cái bọc đau khổ, mẹ tôi chịu đựng bao nhiêu điều tủi nhục. Hết người vợ cả hẹp hòi, ích kỷ của cha tôi hằn học ghen tuông, lại đến các cô tôi kiếm cớ sinh sự. Vợ cả cha tôi bảo mẹ tôi độn vải đầy bụng để đánh lừa ông tôi. Ông tôi nhiều bận chỉ mặt mẹ tôi dọa nạt rằng nếu đúng tháng mà không sinh nở thì sẽ tống cổ mẹ tôi đi. Chú Nghiêm thỉnh thoảng về thăm nhà cũng hạch sách mẹ tôi. Ông tôi quý chú Nghiêm lắm. Trong khi cha tôi mải đàn sáo, chú Nghị giang hồ phiêu bạt, chú khéo léo chiều ông tôi. Bởi thế chú Nghiêm được xuống tỉnh học, đỗ đạt giỏi giang. Chú khinh bỉ mẹ tôi, sự khinh bỉ chú học mót của đám dân trưởng giả thành phố. Mẹ tôi đau khổ trăm chiều, ngày làm quần quật như con vật, tối ôm bụng khóc một mình. Tội nghiệp mẹ tôi, tôi chả biết ví mẹ giống ai. Ðầy tớ nhà ông tôi còn sung sướng còn nói đùa nghịch, chứ mẹ tôi thì câm nín suốt ngày đêm. Cha tôi hy vọng mẹ tôi sinh con trai và đứa đầu lòng sẽ là nhịp cầu bắc qua những tâm hồn người bên nội với tâm hồn mẹ tôi. Chắc chắn mẹ tôi hết tủi cực.

Ðến ngày mẹ tôi trở dạ, ông tôi cất vội vàng túp lều nhỏ ở xó vườn, cạnh khóm chuối tiêu. Tôi cất tiếng khóc ban đầu nơi ấy, ở túp lều xó vườn, cạnh khóm chuối tiêu, cạnh những con người hà tiện tình thương mến. Vì đêm tôi mở mắt chào đời, cha tôi đi vắng nên cớ sự xảy ra như tôi đa nói đoạn đầu. Tuần lễ sau cha tôi về, cha nghiến răng xé nát tờ khai sinh rồi đưa mẹ con tôi xuống tỉnh ly. Tôi vĩnh biệt họ hàng bên nội bằng mấy tiếng “oe oe”. Tôi lớn dần, lớn dần để thu vào tầm mắt non nớt hình ảnh cuộc đời cha tôi : hình ảnh gã nhạc công hậu trường sân khấu cải lương, hình ảnh ông lái thuốc bắc, hình ảnh ông thư ký sở tư, hình ảnh ông thợ chữa xe đạp và sau rốt là hình ảnh ông lang chế thuốc cao đơn hoàn tán. Mãi tới ngày cha tôi mất, tôi mới thù hằn những hình ảnh méo mó đọa đầy linh hồn cha tôi. Sao đời cha tôi nhiều hình ảnh thế? Và đời tôi nữa, hình ảnh thẫm nét nhất là một đêm mù mịt bên khóm chuối tiêu. Thế mà anh em tôi lại phải về quê ngoại. Tôi không hiểu tại sao mẹ tôi chịu nhục nhã, nương náu dưới túp nhà lá bỏ hoang vườn sau, trước đây ông bà ngoại dành riêng cho bọn thợ gặt mỗi vụ mùa. Mẹ tôi chỉ nghĩ đến anh em tôi. Trời ơi, tôi muốn khóc quá.

Ở đây, chúng tôi sống lủi thủi cô độc. Mẹ tôi dọn quán bán nước chè tươi, xôi chè, canh bún ngoài bến đò Ðồng – đức, bòn nhặt từng hào chỉ. Thường mẹ dậy sớm sửa soạn đồ hàng, cơm nước buổi sáng để anh em tôi ăn. Mẹ nắm thêm hai nắm nhỏ phòng trưa đói còn lót dạ tạm. Chập tối mẹ lần mò về nhóm bếp thổi cơm. Bữa nào hàng ế ẩm, mẹ con tôi ăn canh bún, ăn xôi chè thay cơm. Mẹ tôi luôn luôn vui vẻ dù thỉnh thoảng cậu mợ, dì bác tôi mỉa mai đủ điều. Họ nói những lời mà bây giờ tôi hãy còn nhớ. Tôi không thể tưởng tượng nỗi tê tái nghiến nát cõi lòng mẹ khi bà ngoại gọi mà là “đồ đĩ”, bác tôi bảo mẹ là “con lăng loàn” và mợ tôi nói bâng quơ “cóc chết ba năm quay đầu về núi”. Tôi thấy mẹ tôi cúi đầu lẳng lặng, nước mắt nhỏ giọt trên mái tóc em tôi, thì tôi đoán rằng mẹ buồn. Hồi ấy, tuy tôi bó bỏng nhưng tôi đã biết xét đoán những con mắt soi mói, những lời tiếng bấc chì, những bộ mặt ích kỷ của mọi người họ hàng bên ngoại. Tôi thương mẹ. Tôi thương em gái tôi hơn, chưa được hưởng sung sướng thì cha vội lìa đời. Tôi hằng mơ ước một mai khôn lớn, tôi sẽ kiếm tiền nuôi mẹ, sẽ tậu nhà ở tỉnh, mẹ tôi thôi bán hàng, em tôi cắp sách đi học. Nghĩ vậy tôi thèm đọc sách lắm. Khốn nỗi mẹ tôi nghèo cực, lấy tiền đâu mà mua. Tôi đành học ôn mớ sách cũ nát và dạy em tôi từng trang, từng đoạn dè sẻn, sợ hết chữ.

Ðám con cái cậu mợ tôi vào hùa cha mẹ chúng bắt nạt anh em tôi. Hễ em tôi hở ra món đồ chơi nào là chúng nó tìm cách ăn cắp. Tôi đòi, chúng xúm nhau đánh đập tôi sưng tím cả mặt mày. Em tôi khóc, mẹ tôi thở dài đau đớn. Dần dần cuộc sống quen nếp. Anh em tôi biết thân phận, bắt chước mẹ tôi, tập nhịn nhục, tập nghiến răng và hy vọng. Anh em tôi đùa nghịch với nhau, chẳng dám lai vãng đến thềm nhà ông bà ngoại.

Tôi hay bắt dế, bắt chuồn chuồn, bắt công cống cho em tôi chơi. Bạn bè của chúng tôi có chừng chỉ có con chim chích chòe sáng nào cũng đậu trên cành soan ca hát líu lo rồi tung cánh bay xa tìm mồi. Em tôi thích chim. Tôi vụng về, không trèo cao được. Tôi hẹn sẽ bắt tặng em tôi một con sáo khi mùa xuân sang.

Mùa xuân, hoa soan vườn nhà nở nhiều, mầu tím dịu mắt. Mẹ tôi nói hoa soan nở chỉ tổ đuổi muỗi mệt xác. Cùng lượt hoa soan khoe sắc, sáo trên rừng đổ xô xuống đồng bằng hàng đám, cơ man. Em tôi nhìn những con sao đen, lông muôn muốt, viền mắt vàng vàng, ra chiều thèm ước. Tôi theo bọn trẻ con bến đò, lấy rổ rách, vất cạp rồi buộc lại tựa hình cái đó đơm tép. Xong, tôi bó manh chiếu bên ngoài bịt chặt một đầu, còn đầu kia để ngỏ cho sáo ra vào. Tôi buộc tổ sáo trên cành sung thấp nhất. Hai hôm sau vợ chồng nhà sáo bắt đầu tha rác về tổ của anh em tôi. Chúng tôi hoan hỉ đợi chờ. Em tôi chưa chi đã vọi lo cái lồng nhốt con sáo. Tôi bảo em tôi phải mong ba tháng. Em tôi sốt ruột. Ngày nào cũng hỏi thăm sáo. Mẹ mắng em, em dỗi bỏ cơm. Tôi dỗ dành em mới chịu ăn.

Ít lâu sau tôi trèo lên thăm tổ. Tôi thò tay tận phía trong và biết sáo đẻ bốn trứng. Tôi lôi ra xem. Trứng sáo to bằng ngón tay cái của tôi, màu xanh xanh vân vân đẹp quá. Tôi kể chuyện em nghe. Em nhẩy reo ầm ỹ. Mẹ tôi dọa rằng :

– Rắn ưa tìm tổ chim ăn trứng. Con liệu hồn, nó cắn thì chết.

Tôi phát run, thề sẽ chừa thói liều lĩnh nguy hiểm. Nhưng em tôi muối coi trứng sáo, em cứ nằn nì đem xuống một trứng. Tôi đành mạo hiểm lần nữa. Lúc tôi đang lúi húi trước cửa sổ thì vợ chồng đôi sáo bay về. Chúng nó lượn trên đầu tôi, kêu inh ỏi. Tôi bỏ trứng vào túi áo, tụt xuống, sướt cả tay, máu chảy đầm đìa. Em tôi thỏa mãn sự tò mò, em trông tôi, thương hại. Tôi an ủi em và trả lại trứng cho sáo.

Tối hôm ấy mẹ tôi đánh tôi hai roi tội không vâng lời. Mẹ nói :

– Còn trèo nữa, sáo sẽ bỏ tổ.

Anh em tôi lo ngại ngủ chẳng ngon giấc. Ngày tháng mùa xuân trôi vùn vụt. Một buổi sáng anh em tôi nghe rõ tiếng sáo con kêu trong tổ, em tôi hỏi :

– Anh ơi! Sáo con có bú mẹ không?

Tôi vuốt tóc em dịu dàng trả lời :

– Em bú mẹ chứ sáo nào bú mẹ

Em ngây thơ :

– Thế làm sao nó lớn được?

– À sáo mẹ mớm mồi.

– Sáo bố làm gì hở anh?

– Sáo bố đứng canh. Em nhìn thì biết. Kia kìa, trên cành cây gần tổ. Khi sáo mẹ mớm mồi cho các con, cũng như khi ấp trứng, sáo bố bao giờ cũng lởn vởn ngoài tổ em ạ!

Tôi giảng nghĩa thế vì tôi nghe lỏm bọn trẻ con ngoài bến đò. Em tôi ngạc nhiên, ngây người đứng ngắm. Lát lâu em mỉm cười nũng nịu :

– Sáo con ngủ, sáo mẹ có ru không anh?

– Chắc có.

– Anh biết à?

– Thì anh đoán, chim cũng như người vậy em ạ!

– Mẹ ru em bằng bài “Con cò mà đi ăn đêm”, sáo ru con bằng bài gì hở anh?

– Anh chịu, chả biết được.

– Giá sáo là người để em hỏi nó chắc thích lắm anh nhỉ?

– Ừ.

Ðám con cái ngỗ nghịch của cậu mợ tôi đã thấy chỗ tôi buộc tổ sáo. Tôi tức’ sôi ruột, tức muốn đốt nhà chúng nó. Chúng nó rình mò làm tôi không thể ra bến đò trông hàng giùm mẹ tôi những lúc đông khách. Anh em tôi thay phiên nhau canh gác. Mẹ tôi khuyên tôi nên chia sáo cho chúng nó. Tôi miễn cưỡng phải rỡ tổ đáng lẽ chờ vài hôm nữa sáo con già dặn hơn. Hôm tôi bắt sáo con, vợ chồng sáo bay lượn kêu thảm não. Sáo mẹ sà xuống sát đâu tôi như thể nó sắp mổ mắt tôi. Chẳng trách cha tôi xé tờ khai sinh, mẹ tôi chịu vất vả, khổ sở. Mẹ tôi mua giỏ bắt cua để tôi nhốt sáo. Cậu mợ tôi chọn lựa ba con đẹp, lớn ; phần tôi là con sáo đẹt, bé nhỏ, xấu xí nhất đàn. Tôi buồn, khóc mấy đêm ròng. Làm sao tôi nhớ hết mọi chi tiết vụn vặt cái hôm ông cậu bà mợ tôi chia sáo? Cậu tôi bóp con sáo xấu số của tôi khiến cho nó há mỏ ra. Em tôi run rây chỉ sợ nó chết? Mợ tôi bảo :

– Bọn mày nuôi sáo làm quái gì, cơm còn không đủ ăn lại có cơm thừa nuôi sáo.

Tôi cáu tiết cãi lại :

– Sáo ăn cào cào chứ cần gì cơm gạo.

Cậu tôi chẳng nể nang gì mẹ tôi cả, cậu chúi đầu tôi một cái thật mạnh. Tôi lao đao xuýt ngã. Cậu mắng mỏ :

– Ðồ chết cha, đồ con hoang có khác. Anh em mày lớn lên thì thành đồ ăn cắp!

Tôi nín lặng, em tôi chạy vào ôm lấy mẹ. Và cả tôi cũng lủi thủi cầm con sáo vừa đi vừa khóc. Tiếng khóc của em tôi, em tôi rõ ràng hơn. Mẹ tôi thương anh em tôi, mẹ bỏ bán hàng nửa buổi đan cái làn mắt thưa. Mẹ bảo nhốt sáo vào đấy rồi treo lên cây, sáo mẹ luyến con sẽ mớm mồi, như vậy sáo chóng lớn.

Tôi nghe mẹ. Quả con sáo của anh em tôi được sáo mẹ chăm lo chu đáo. Ðám con cái của cậu mợ tôi ghen ghét. Chúng nó chăm chăm đòi bắn đôi sáo già. Tôi chỉ ngại nhỡ chúng bắn sáo của tôi. Bọn ranh con mất dạy, ích kỷ bắn súng cao su không trúng, chúng nó nhờ người thổi ống xì đồng. Buổi sáng hôm cái gã mắt chột rình rập ngoài vườn, anh em tôi lo cuống quýt. Em tôi nhìn sâu chim đủ loại : chào mào, chích chòe, liếu tiếu lủng lẳng trên vai hắn, em nói nhỏ :

– Khéo nó bắn chết sáo mất anh ạ!

Tôi run run trả lời em :

– Ðừng sợ em ơi! Mắt nó chột bắn chả tin đâu.

Nhưng đôi sáo già đi kiếm mồi đã về. Tim anh em tôi đập mạnh. Tôi rõi mắt lên cành sung chờ đợi. Sáo bố đậu cách cái làn khá xa, sáo mẹ mon men lại gần mớm mồi. Trong lúc đó, viên đạn đất oan nghiệt từ ống xì đồng thổi phụt ra. Sáo bố trúng đạn rơi xuống ao. Em tôi giật nẩy mình kêu lớn :

– Chết em rồi!

Tôi cảm thấy như viên đạn trúng đầu tôi. Con sáo bố đã chết. Sáo mẹ bay lượn, rỉa rói ai oán hàng giờ. Em tôi ứa nước mắt :

– Sáo của anh em mình mất bố rồi nó sẽ khổ lắm anh nhỉ?

Câu nói khiến lòng tôi se lại. Tôi nhớ cha tôi. Phải chi cha tôi còn sống thì anh em tôi đâu khổ sở thế này. Sáo mẹ thỉnh thoảng bay tới, nó chỉ dám sà vội qua cái làn, có khi sáo con chưa kịp há mỏ, mồi đã rơi mất. Sáo mẹ sợ sệt tất cả. Tôi chạnh nghĩ đến mẹ tôi mà buồn vời vợi.

Em tôi lo cho sáo con, đòi mang xuống. Tự đấy sáo mẹ không trở lại nữa. Có lẽ nó đã chết vì cô độc hay đã về rừng. Chúng tôi nuôi sáo bằng chuối. Dần dần sáo lớn, tôi ra đồng đập cào cào lấy mồi nuôi sáo. Tội nghiệp sáo con côi cút, đêm ngày âm thầm chui rúc trong cái giỏ cua. Em tôi đang phân vân không hiểu mai kia sáo lớn nhốt vào đâu. Ước gì có cái lồng tre, chúng tôi mơ ước song mẹ tôi không thừa tiền chiều chuộng con.

Giữa lúc đó thì chú Nghị đến thăm mẹ tôi. Họ hàng bên nội nhà tôi chỉ chú Nghị là kẻ có lòng. Bao nhiêu năm tháng qua rồi, từ ngày tôi sinh ra đời tới bây giờ, chú luôn luôn an ủi, giúp đỡ mẹ tôi. Tuy chú nghèo, tôi thường nghĩ giang hồ phiêu bạt như chú, giầu sao được. Chú Nghị tốt lắm, chú bên vực mẹ tôi thuở mẹ tôi bị cả gia đình chồng xúm vào cấu xé, đay nghiến chỉ vì mẹ tôi thương yêu cha tôi quá đến nỗi mẹ bằng lòng lấy cha tôi không cần giá thú. Hôm đưa xác cha tôi tới nghĩa địa, tôi thấy chú khóc nức nở khi những tảng đất phủ kín dần chiếc quan tài bằng gỗ mộc. Tôi còn đủ trí nhớ để hình dung ra bộ mặt khắc khổ phong sương của chú Nghị. Và hình dung ra thì tôi lại ghét cay đắng ông bà nội, các cô các chú tôi, nhất là người vợ cả ích kỷ của cha tôi.

Dạo cha tôi ở Hà – nội, ban tuồng chú Nghị sau nhiều chuyến lang thang dọc. đường gió bụi, trở về trình diễn tại thành phố này. Chú dành ghế cho cha mẹ tôi xem tuồng liên miên. Mỗi buổi tan hát, chú dẫn đi ăn mì. Khi rảnh rang, chú dắt tôi tới vườn Bách – thú xem xiếc hoặc dạo mát loanh quanh trong công viên rồi ra ngồi ăn bánh tôm trên đường Cổ – ngư bên hồn Trúc – bạch. Mỗi phố tôi qua, chú dạy tôi cách trông chừng hai đường xe cộ lưu thông. Vì chú cháu tôi hay thơ thẩn buổi sáng, chú bảo tôi thở hít mạnh, chú giữ lưng tôi ngay thẳng tựa người lính tập đứng nghiêm. Tôi yếu đuối, chắn chắn sự yếu đuối ảnh hưởng phần nào những ngày mẹ tôi mang thai tôi, tâm hồn mẹ bị dằn vặt, thôi thúc thời gian đó. Huệ, Lê – Lợi, Lý – Thường – Kiệt, câu kết luận của chú bao giờ cũng hàm đầy ý khuyến khích :

– Cháu gắng lên, mai mốt cháu sẽ giỏi, cháu sẽ hãnh diện làm con của cha mẹ cháu.

Tôi không nghe chú nói tới quãng đời luân lạc chim nổi của một kép hát. Sau này vợ chú bỏ chú lấy người khác, chú nghiện rượu và thù hằn tất cả. Tôi không biết tại sao chú hay giấu điếm sự uẩn ức mà đáng lẽ nói được thì chú bớt giận dữ kẻ khác trên đời. Nhưng, ngay trong những cơn điên tàn bạo, chú tôi rất h iền hòa với mẹ tôi. Tôi nhớ dạo gia đình tôi sống ở ngoại ô Khâm – thiên, nhà tôi phải đi qua cái ngõ hẹp bẩn thỉu. Một buổi tối, tôi đang cắm cổ bước, vì tôi sợ ma, thình lình chú Nghị nấp sau đám giậu kêu “ú a ú ớ” cơ hồ tiếng ma quỷ giận hờn rồi xô ra chắn lối. Chú muốn dọa tôi nên chú chơi thế. Song lúc ấy tôi không thèm hiểu. Trong khoảnh khắc, đầu óc tôi tràn ngập sợ hãi, khích động. Tôi cáu tiết đá chú nột cái thật mạnh. Tôi mới lên mười nhưng tôi mang giầy, trong cơn tức giận tôi đá mạnh kinh khủng và cái đá làm sước ống chân chú Nghị. Máu chảy ròng ròng, chú đau đớn, rên nhè nhẹ rồi ngẩng lên mỉm cười. Chú ôm tôi xin lỗi. Tôi khóc thương chú khiến chú rớt nước mắt. Chú Nghị mang vết sẹo trên da tháng năm nối tiếp. Thỉnh thoảng vui vẻ, chú kéo ống quần khoe vết sẹo. Anh em tôi lại sà vào lòng chú nũng nịu.

Ngày mẹ tôi dìu anh em tôi về quê ngoại, chú phiêu bạt mãi tận Sài – gòn. Thành thử chúng tôi trống rỗng buồn tẻ. Không ai bênh vực an ủi anh em tôi. Nay tự nhiên chú Nghị đến, hỏi chi anh em tôi không vui mừng sung sướng. Bên ngoại vẫn thù bên nội vì ngày mẹ tôi trốn nhà theo cha, ông nội cứ gọi tên ông ngoại chửi bới, trách móc. Lúc này chú Nghị có mặt ở đây, tôi thấy chú nhét bông đầy tai và đeo kính râm suốt ngày. Chú mua cho tôi vô số sách đẹp. Chú dạy anh em tôi học. Tôi thích chú Nghị nói chuyện lịch sử. Em tôi thì bận tâm về con sáo nhỏ. Em khóc khi chú dạy tôi toán pháp. Chú hỏi em tại sao, em bảo ước’ gì có cái lồng như bọn anh chị em con cậu con bác tôi. Chú Nghị vuốt tóc em, chú tháo cặp kính, mắt chú đỏ ngầu, chú thẫn thờ giây lát rồi ghé tai em tôi thầm thì. Em tôi nhảy lên reo múa. Mấy hôm sau, chú bỏ việc dạy học, ngồi cặm cụi vót tre đan lồng. Ba bốn ngày liền chú mới đang xong. Cái lồng sáo của em tôi đẹp chả thua gì lồng bán ngoài bến đò. Chú làm chiếc thang ngang lấy chỗ cho sáo đậu, chú buộc cóng đựng nước và cóng chưa có gạo, nước. Con sáo được nuôi trong lồng ra bỏ đi. Mẹ tôi giữ thế nào cũng chẳng nổi. Tôi hết hy vọng học chú. Hôm chú mới đến, chú hứa chú ở lâu, chú nói dối anh em tôi. Chú Nghị ra đi, ít tháng sau được tin chú chết, mẹ con tôi buồn não nuột. Từ đó, sớm chiều anh em tôi đành tâm sự với con sáo.

Tôi ra đồng đập cào cào, châu chấu làm mồi cho sáo ăn. Em tôi thích đút chuối cho sáo. Em cắn miếng chuối nhỏ, xâu vào đầu cây tăm. Em thổi sao miệng, chú sáo đói kêu “khách khách” trả lời rồi há mỏ ra đợi em tôi mớm ăn. Em còn cho sáo ăn thịt nữa. Những buổi trời ấm áp, em tôi tắm sáo, rửa lồng. Nhìn sáo phơi mình dưới ánh nắng, mắt em tôi bừng lên những tia sung sướng, hy vọng. Em hay thả sáo tự do nhởn nhơ khỏi lồng. Em đi trước, sáo theo sau tựa hồ đôi bạn côi cút thương yêu nhau. Con sáo của em khôn lắm, nó thường “làm nũng” em lúc em cho nó ăn. Nó nhảy lên cánh tay em rồi bậy trắng lòe áo. Em thích ôm sáo trong lòng đôi bàn tay hoặc để nó đậu trên vai rất âu yếm. Bữa nào sáo ăn ít, em sợ sáo ốm, sáo chết, em buồn có khi em khóc. Nhiều đêm trời mưa bão, em ngủ không yên, thức giấc là hỏi chuyện sáo.

Ngày tháng trôi qua, con sáo của em tôi thay hình đổi dạng. Bộ lông đen mượt, nó nhẩy nhót luôn chân. Nó đã biết mổ gạo. Như thế anh em tôi khỏ cần lo cào cào, châu chấu, chuối, thịt nữa. Mẹ tôi bảo bóc lưỡi sáo vài lần thì nó mới nói được. Em tôi sợ sáo đau nên ngần ngừ. Nghe ai mách rằng cho sáo uống nước cua kẻo nó “sốt rét”, em tôi định làm, song mẹ tôi mắng :

– Sáo đẻ ở đồng bằng thì ngã nước cái gì, chỉ vẽ chuyện.

Thế rồi anh em tôi cũng phải nhờ mẹ tôi bóc lưỡi sáo. Con sáo xấu xí út ít không ngờ đẹp quá. Bọn trẻ gạ gẫm mua, anh em tôi từ chối. Chúng nó tức giận bèn mang con mèo già hung ác tới dọa nạt. Anh em tôi thay phiên gác sáo.

Bây giờ con sáo tập hót. Mắt nó còn viền vàng xinh đáo để. Thỉnh thoảng vắng người nó líu lo đôi tiếng. Hễ có người thì nó câm tiếng. Em tôi cho rằng nó xấu hổ. Một buổi trưa anh em tôi đang thiu thiu ngủ bỗng nghe con sáo kêu hoảng hốt. Em tôi vùng dậy, thấy ở thềm nhà gã mèo hung ác đứng gầm gừ nhìn lên. Em vác guốc ném trúng mèo, nó co đuôi chạy mất. Chúng tôi lo sợ. Mẹ tôi bắt mang lồng sáo ra ngoài hàng, tối mang về.

Khách hàng ghé quán mẹ tôi, họ dạy anh em tôi cách tập sáo nói. Họ bóc hộ lưỡi rồi họ che kín mít lồng. Quả nhiên sáo không nhìn rõ ai, hót líu lo. Giọng nó trong vắt mà buồn làm sao. Trưa hè ở bến đò vắng vẻ, tiếng nó gợi cho anh em tôi bao nỗi nhớ nhung thương tiếc. Tôi lại nhớ chú Nghị, nhớ cha tôi. Dần dần em tôi dạy nó nói. Bài học vỡ lòng để sáo nói tiếng người là :

– “Sáo dạ, sáo dạ, nhà có khách”.

Em tôi kiên nhẫn dạy sáo, mãi rồi con sáo côi cút của em tôi nói được. Em ngây thơ lắm, em dạy cả sáo hát, dạy nói những lời hết sức tha thiết :

-“Sáo nhớ mẹ, sáo khóc “.

Con sáo dường như hiểu nỗi lòng của em tôi nên cố gắng. Khi em hát, sáo hót và nói “Sáo nhớ mẹ…” Càng ngày sáo hót càng hay. Thấy là lạ, ông ngoại tôi xuống chơi nhà tôi nghe sáo nói. Việc này quá sự tưởng tượng của mẹ tôi. Từ ngày gia đình tôi về nương náu ở đây có khi nào ông ngoại tôi thèm thăm hỏi. Ông thích con sáo, ông đòi mượn. Em tôi lăn ra khóc’ từ chối. Sau hôm ấy, ông ngoại ghét anh em tôi hơn.

Ở bến đồ, vô khối người muốn mua, họ trả một trăm đồng nhưng em không bán. Mẹ tôi khuyên em nên bán vì trăm bạc sẽ may được cho hai anh em tôi mỗi đứa hai bộ quần áo diện tết. Em tôi không cần quần áo, nếu mẹ bán sáo thì em tôi sẽ nhịn đói đến chết. Cuối cùng mẹ chiều em. Anh em tôi có con sáo nên bớt cô độc. Trẻ con hàng xóm năng lui tới nhà tôi trừ bọn anh em họ độc ác của tôi. Trong quãng đời thơ ấu buồi tủi, anh em tôi thèm thuồng đủ thứ. May mắn mẹ đưa anh em tôi về quê chứ ở lại Hà – nội thì anh em tôi còn khổ sở dường nào. Ðiều chắc chắn là em tôi không có con sáo để trút nỗi niềm. Em tôi ưa ngồi một mình nói chuyện với sáo. Em tôi kể nỗi hiu quạnh của em làm như sáo hiểu nổi. Em hỏi sáo :

– Mất bố mẹ sáo có khổ không?

Rồi em nói tiếp :

– Khổ ư? tội nghiệp nhỉ , bé bỏng thì chỉ bị bắt nạt thôi sáo ạ! Sáo đừng khóc nhé! À sáo ăn no chóng lớn, chớ bỏ bữa, gầy còm rồi chết thì tôi buồn đấy sáo ạ! Chả ai chơi thân với người nghèo như mình đâu.

Con sáo đôi khi vô tình buột miệng :

– “Sáo nhớ mẹ sáo khóc”

Em tôi dỗ dành :

– Ừ, sáo nhớ mẹ, tôi cũng nhớ cha. Sáo khóc à, thì khóc đi…

Tôi nằm nghe, nước mắt trào ra cay đắng. Dạo ấy tôi mới chỉ mười ba tuổi, em tôi tám tuổi. Nhưng tôi sớm tiếp nhận nỗi u sầu vào tâm hồn. Và bao nỗi niềm tủi nhục thay phiên hất hủi mẹ con tôi nên tôi đã khôn ngoan, đã biết khinh bỉ họ hàng bên nội bên ngoại trừ chú Nghị.

Cuộc đời đọa đầy tôi ngay ở cái tuổi đáng được hưởng hạnh phúc, sung sướng. Thành ra nếu có ai nghi ngờ, tôi vẫn nói rằng suốt thời thơ ấu của tôi, tôi không biết trông trăng trông sao, không biết bẻ hoa bắt bướm mà chỉ biết be bờ ruộng đơm đó kiếm tép để ăn, ăn thừa thì mẹ tôi đem ra bến đò bán. Cùng tuổi tôi, đám con cái của cậu MỢ tôi còn vòi vĩnh cha mẹ, ngu ngơ chả hiểu gì. Thế mà tôi hiểu cách rang cám cho thơm, cắt màn cũ khâu thành vó, vót tre thành giọng, cất vó tôm. Tôi hiểu cách cưa ống nứa, đan hom đào giun xào với lá bòng thả ống lươn. Tôi hiểu cách đan rọ cá rô, ngâm thóc vào nước gạo cho thối nhử đàn cá. Tôi hiểu nhiều lắm, hiểu cả những lời bóng gió, mỉa mai của thiên hạ để sau này bước xuống cuộc đời đem tâm sự của một con chim hụt mũi tên.

Mẹ tôi ví tôi như trái chín rấm. Tôi tưởng tôi là trái chín hoang. Vì trừ trái chín cây không thèm kể đến, trái chín rấm còn được người ta xếp vào lò hay bỏ vào vựa, vào chum, người ta nhét vào đầy lá soan cho mau chín chứ đời tôi, đời anh em tôi nhất định là hai trái chín hoang. Ngày nào đó, người ta thấy hai trái xanh quá, xấu xí quá, người ta ném vô bụi giậu. Mưa, nắng, gió bão tới tấp, chịu đựng nổi thì trái chín. Tôi biết tôi chịu đựng nổi bởi vì ngoài họ hàng bên nội bên ngoại còn mẹ tôi, còn chú Nghị. Ngoài đám con cái cậu mợ tôi hay bắt nạt, hếp đáp anh em tôi còn bọn trẻ con ở bến đò Ðồng – đức dạy tôi buộc tổ sáo… Và mai mốt tôi sẽ chín, chín chẳng để trả thù ai đâu, nhưng chín để kể lại chuỗi ngày tháng anh em tôi nuôi con sáo.

Con sáo là niềm an ủi duy nhất, là niều kiêu hãnh duy nhất của anh em tôi. Trong khi chung quanh tôi, trẻ con nhà giầu nuôi sáo bằng lồng son, cóng sứ, thức ăn thì gạo trộn lòng đỏ trứng gà, nước uống thì pha sôm nhị hồng, sáo của chúng nó vẫn chết. Anh em tôi nuôi sáo chỉ có gạo trắng, nước lã, lồng tre mà sáo hót lại hót hay, sáo nói lại nói giỏi. Tưởng con sáo cũng nên kiêu hãnh. Với tình thương mến của anh em tôi, với cái lồng do chú Nghị đan, nó đã thành con sáo quý khác cả những sáo quý nhất trên đời.

Tính ra anh em tôi nuôi sáo dã lâu. Năm ngoái mẹ tôi buôn bán phát tài, tết nhất cũng đủ bánh trái, thịt ăn mấy ngày. Anh em tôi mỗi đứa có bồ quần áo mới , có tiền xu, tiền hào chơi đáo, chơi cò quay, có tranh con lợn treo tường, có long đình, tượng bụt chơi làm đình làm chùa. Giá nghe mẹ bán con sáo thì tiếc chừng nào. Năm nay hàng quán ế ẩm. Suốt mùa đông mưa lê thê, bến đò vắng khách. Mẹ tôi lại đau yếu luôn luôn, phải nghỉ ở nhà. Con sáo cùng chung nỗi buồn, biếng ca hót lười bay nhảy, nó quên cả lải nhải mấy câu nói em tôi dạy thuộc lòng.

Trời cuối tháng chạp mưa phùn rả rích. Gió bấc thổi vù vù. Rét thấu xương. Anh em tôi co ro trong ổ rơm, lồng sáo đặt bên cạnh. Mẹ tôi lại sốt từ hôm ông Táo lên chầu trời. Ba hôm nữa tết rồi mà mẹ vẫn nằm rên rỉ. Tôi lo ngại quá, tâm hồn thờ thẫn.

Em tôi sốt ruột vì trời mưa. Nhà chỉ còn gạo, mẹ tôi chưa sắm sửa đồ cúng. Gà vịt cũng chưa mua. Cho đến tối ba mươi, mẹ tôi lên cơn sốt nặng. Mẹ tôi rên hừ hừ. Ðắp hai cái chăn, hai cái chiếu, mẹ vẫn còn rét. Anh em tôi ôm nhau khóc thút thít. Em hỏi những câu quái gở khiến tôi rùng mình.

– Anh ơi! liệu mẹ có chết không?

– Không, mẹ phải sống nuôi anh em mình thành người chứ.

– Sao mãi mẹ chải khỏi gì cả?

– Tại trời mưa lạnh, tạnh nắng là mẹ khỏi, em đừng lo.

Tôi nói dối em tôi tại mưa lạnh, thực ra mẹ tôi chẳng uống thuốc men gì cả. Con nhà nghèo, ốm no bò dạy. Tôi thường bị sổ mũi, ho mà có cần mời thầy lang đâu. Nằm vài bữa, trở dậy lại khỏe như cũ. Tôi tin thế nên đỡ lo.

– Dạo cha còn sống mẹ có ốm nặng không anh?

– Anh chả nhớ rõ.

Trưa nay, em ngủ nằm mơ thấy cha, em nhớ cha quá, ước gì cha sống lại…

Em tôi khóc to hơn. Tôi ôm em vào lòng, thương mến. Bên ngoài trời còn mưa lai rai. Ðêm cuối năm mù mịt. Anh em tôi lo lắng không dám ngủ. Lúc mẹ tung chăn chiếu, anh em tôi nhảy bổ vào ôm mẹ. Hơi nóng và mồi hôi sau cơn sốt thoát ra sưởi ấm anh em tôi giữa đêm trừ tịch. Mẹ tôi vuốt tóc em.

– Mai, ngủ thôi chứ con, mai dậy sớm mẹ mừng tuổi tiền mua pháo tép.

Em tôi nũng nịu :

– Con mua pháo ống lệnh cơ!

– Ừ thì mua pháo ống lệnh.

– Mới lại cái gương cho con sáo nó soi.

– Gớm cô ả vòi vĩnh mãi.

Mẹ tôi chiều con, mẹ nói hơi nhiều, giọng mẹ mệt nhọc. Tôi định hỏi mẹ cái gì, nhưng thương mẹ lại nghĩ không ra. Anh em tôi tắt đèn đi ngủ.

Sáng mồng một tôi dậy sớm. Em tôi ngủ mê mệt, tôi đắp thêm chiếu cho em ấm áp ngủ lâu. Mẹ tôi hình như đã đỡ. Mẹ nhìn em tôi, lắc đầu ái ngại. Dưới ngọn đèn lù mù, tôi thấy nước mắt mẹ tôi lăn tăn trên gò má xanh xao, khắc khổ. Mẹ tôi nói nhỏ :

– Hữu này, mẹ dặn con nghe nhé! Hôm nay đừng lởn vởn ngoài ngõ, đừng lấy tiền của ai cho.

Mẹ tôi dặn tôi bằng thừa. Cậu mợ tôi dạy tôi nhiều bài học độc ác, giả đạo đức quá rồi, tôi thèm thuồng gì mà ngửa tay ra để người ta nhổ bọt vào. Nhưng tôi phải đáp :

– Vâng ạ!

Giọng mẹ tôi đứt từng câu ngắn :

– Tại mẹ ốm… thành thử… tết này nhà mình… thiếu cỗ. Con nhớ… thắp hương… bàn thờ cha con nhé! Con lớn rồi, chả cần, chứ em con, ngày tết… không được miếng thịt…

Mẹ tôi bỏ lửng câu nói, ôm mặt khóc tấm tức. Tôi bỏ ra ngoài sân. Trời lạnh hẳn. Phía nhà trên, gia đình ông ngoại đang giết gà, vo gạo, thổi xôi… Chiều qua nhà ông mổ lợn. Tôi muốn lên chầu chực để may ra ông thương hại thí cho một miếng về ăn tết. Song tôi nhớ tới chú Nghị, tới những bài học làm người chú dạy tôi nên tôi lại thôi. Dường như hồi chú ghé đây để đan cái lồng sáo, chú nhìn tôi rồi gật gù, bao giờ chú cùng gật gù sau buổi dạy học :

– Cháu thông minh lắm, cháu giỏi lắm.

– Nhưng mẹ cháu nghèo.

– Hề gì, đói rách đâu phải là tội lỗi, cháu đừng buồn. Rồi ngày kia cháu sẽ lẻ loi, cháu sẽ thấy trong sự đau khổ người ta mới xét đoán mọi việc đứng đắn.

– Rồi cháu có sung sướng không chú?

– Chú không dám nói cháu sung sướng nhưng chú quả quyết cháu có tài, có nhiều tài…

– Thật hả chú?

– Thật chứ, song cháu chả nên quy lụy ai , quy lụy nó hèn con người đi thì rồi cái tài cũng đến xếp xó.

Chú ưa kể chuyện cha tôi và ngón sở trường âm nhạc : đàn thập lục. Chú bảo ngày ông nội đuổi cha tôi khỏi nhà, cha tôi không có đồng xu nào dính túi. Thế mà cha tôi gây dựng nổi đời cha. Tại cha tôi chết sớm chứ không thể nào cũng có ngày cha về làng mua đất dựng nhà. Tôi kém cha tôi nhiều quá, tôi chỉ biết khóc.

Lúc này đứng nhìn thiên hạ đón xuân, tôi nghĩ đến em gái tôi, nghĩ đến miếng thịt gà, thịt lợn hay thịt chim khi em tôi tỉnh dậy. Anh em tôi chỉ có mỗi con sáo. Con sáo nuôi bao nhiêu ngày mới biết nói. Chẳng lẽ tôi giết nó? Chẳng lẽ em tôi ăn cơm với muối ngày đầu năm? Năm nay em tôi mười tuổi, mười mùa xuân bay vụt qua, mười mùa xuân tẻ nhạt, buồn thảm chấp nối thành thời thơ ấu của em tôi. Mùa xuân trôi theo kỷ nhiệm, có khi nào níu lại được? Tôi không muốn em tôi lớn lên phải nghẹn ngào nhắc tới một trang chua chát, xiên lệch trong cuộc đời. Vậy thì tôi sẽ giết con sáo. Tôi nghĩ tôi biết buộc tổ, biết nuôi sáo, nuôi bằng cái lồng của chú Nghị thì sáo nào chẳng biết nói, biết hót. Dẫu con sáo này chết, tháng sau tôi buộc tổ sáo khác. Mùa xuân tàn rất nhanh, tôi có đàn sáo mới, tôi nuôi một đôi để chúng quyến luyến nhau cơ hồ anh em tôi, chắc em tôi sung sướng lắm. Ý tưởng ấy khiến tôi bớt se sắt, bớt tủi nhục. Tôi len lén trở vào xách cái lồng sáo xuống bếp. Trời còn tối, sáo không nhận ra tôi. Nếu nó chết thì nó oán hờn sự nghèo khổ và bàn tay tàn ác nào đó. Vong hồn cha tôi sẽ phù hộ tôi. Giết nó, tôi đau đớn vô ngần nhưng tôi phải thương em tôi hơn. Em tôi phải được ăn thịt sáo nấu su hào ngày mồng một tháng giêng năm mới. Chỉ vì em, tôi quên tất cả.

Tôi mở cửa lồng thò tay tìm con sáo. Nó nhảy trốn, móng chân nó cào vào tay tôi đau buốt. Cuối cùng tôi tóm nó. Nó kêu ai oán, từ xưa nó chưa từng kêu như thế. Nó g giẫy giụa. Tôi vặn cổ nó chết tươi. Làm xong công việc tàn nhẫn đó, tôi nhóm lửa nấu nước làm lông. Tôi run run chặt dao trúng ngón tay. Máu tôi hòa cùng máu con sáo.

Tôi xào thịt với hành mỡ thơm lừng rồi đổ nước đun thật lâu. Trong khi chờ đợi, tôi gọt su hào.

Lúc ở bếp bước ra, trời hừng sáng. Tôi đem lông sáo và cái lồng giấu phía sau nhà. Tôi ngồi bệt xuống đất, ôm mặt khóc. Pháo nổ vang trời đất, chuông trống khua inh ỏi. Lòng tôi sôi bùng bùng, tan nát. Tôi nhớ chú Nghị, tôi nhớ cha tôi. Những người thân yêu có thể che chở cuộc đời mẹ con tôi đều bỏ đi cả. Bây giờ mùa xuân về, mẹ con tôi cô độc, nghèo nàn. Tôi đâu đớn trút nỗi buồn vào hai bàn tay non nớt, bóp bẹp cái lồng sáo. Niềm vui thơ ấu của anh em phần bị chết chóc, phần bị dúm dó, gẫy vụn. Tôi cứ ngồi tưởng tiếc. Mãi khi nghe tiếng mẹ gọi , tôi mới trở vào.

Mẹ tôi hỏi :

– Tại sao con khóc?

Tôi đưa vạt áo thấm nước mắt, trả lời :

– Thưa mẹ khói làm con cay mắt đấy ạ!

Rồi tôi mỉm cười, nhưng nụ cười gượng gạo ấy giấu sao nổi một tâm tư đang cuồn cuộn muôn vàn ý nghĩ. Tôi nghe tiếng mẹ thở dài. Tôi đánh thức em tôi dạy. Mẹ tôi mừng tuổi cho mỗi đứa hai đồng. Tôi tặng cả em. Em tôi sung sướng nhận ngay không hỏi lôi thôi như những ngày thường. Gió xuân vừa tạt qua đôi má thơ ngây của em. Tôi nói :

– Mai, đi rửa mặt rồi vào ăn cỗ em!

Em reo to :

– Có cỗ hở anh?

– Ừ, cỗ to lắm.

– Anh cúng cha chưa?

– Ðã.

Tôi nói dối em chứ ai lại cúng cha bằng thịt sáo. Em tôi chưa biết gì cả. Khi ngồi ăn, em mơ màng chuyện đâu đâu. Em khen thịt ngon. Bất chợt em hỏi tôi :

– Thịt gì đấy anh?

– Thịt chim.

– Anh mua à?

– Không.

– Thế ai cho, ông ngoại hở?

Tôi im lặng nghĩ câu trả lời. Em tôi tự nhiên buông đũa, đứng dậy, cuống quít :

– Con sáo của anh em mình anh ạ! Ta mừng tuổi nó chứ?

Thấy tôi rầu rầu không nói, đứa em gái sầu thảm của tôi ngây người đứng ngó. Và em chạy vụt ra sân ngơ ngác tìm kiếm xong lại chạy vô gậm giường? Chẳng thấy lồng sáo đâu, em hỏi :

– Nó ở đâu hở anh?

– Chắc trộm bắt mất rồi em ạ!

Em tôi thẫn thờ bước khỏi ngưỡng cửa. Lòng tôi rối bời. Nước mắt trào dâng lên, nhỏ giọt xuống bát canh su hào thịt sáo. Tôi cứ ngồi, nước mắt cứ rơi, lặng thinh như phiến gỗ. Tôi đợi em vào để xin lỗi. Tôi hối hận, tôi muốn chạy ngay ra ngõ gào khóc bi thương ngộ may có Phật hiện hình thì xin ước cho con sáo sống lại. Nhưng cõi đời tăm tôi của anh em tôi, Phật là chú Nghị, chú chết rồi, tôi ước nguyện gì đây? Mãi chả thấy em trở vào, tôi hoảng hốt chạy về phía nhà sau. Ở đấy có bộ lông sáo sũng nước và cái lồng tre chú Nghị đã đan cho em tôi. Em tôi ôm cái lồng vào tay thương tiếc. Tôi đi nhẹ tới gần em. Bước chân tôi run rẩy trên nền đất quê ngoại. Tôi khẽ gọi :

– Mai, em Mai…

Em không ngoảnh lại. Tôi biết em ghét tôi lắm. Em đứng dậy, vẫn ôm cái lồng, lững thững đi ra bờ ao. Tôi phải nói thế nào để em tôi hiểu tại sao tôi giết con sáo? Tôi toan giãi bày, nhưng khốn nạn, sự nghẹn ngào rình mò đúng lúc vít chặt lấy cổ họng tôi. Tôi chỉ còn biết ấp úng :

– Em ơi! Anh xin…

Tôi buông chưa dứt lời, em quay lại nhìn tôi, đôi mắt chớp mau. Bốn con mắt anh em tôi lúc ấy mờ đi dưới cái màng sám hối, đau thương. Bộ mặt đau khổ của tôi nói với em nhiều rằng tôi quý con sáo nhưng tôi yêu em. Em tôi chừng hiểu chuyện, em buông đôi tay. Cái lồng và bộ lông con sáo rơi xuống đất. Em chạy xô tới ôm lấy tôi, khóc nức nở.