Tìm kiếm blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn ebook. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ebook. Hiển thị tất cả bài đăng

Macbeth, Tác giả William Shakespeare


Macbeth, Tác giả William Shakespeare

Macbeth, Tác giả William Shakespeare

Macbeth, Tác giả William Shakespeare


Sấm sét vang rền, những tia chớp lóe trong đêm tối. Đó là thời gian lý tưởng cho các mụ phù thủy hò hẹn nhau đợi giờ tàn cuộc chiến.
Người ta nghe thấy tiếng ầm ĩ của một trận đánh lớn: Macbeth, nam tước Glamis và Banquo, người chiến hữu, cùng chiến đấu bảo vệ mảnh đất Ecosse chống lại vua Na-Uy, được nam tước Cawdor, phản lại tổ quốc mình, trợ lực. Hạnh phúc thay cho Duncan, vua Ecosse, khi nhận được tin hai vị tướng can trường đã đè bẹp quân thù. Như “hai khẩu thần công nạp đạn, họ đánh tan tác bọn Na-Uy”; Macbeth đã sả làm đôi thủ lãnh bọn phiến loạn.
Trên vùng đất hoang um tùm thạch thảo, giữa cơn giông tố các mụ phù thủy tề tựu lại. Chúng gồm ba đứa quây tròn nhảy múa:“Ba vòng cho mày, ba vòng cho tao, thêm ba vòng nữa là chín”. Đột nhiên, chúng dừng lại. Macbeth và Banquo vừa đi trờ tới. Chúng giơ những ngón tay khẳng khiu, trơ xương lên và lần lượt nói:
- Chào Macbeth! Chào người, nam tước Glasmis!
- Chào Macbeth! Chào người, nam tước Cawdor!
- Chào Macbeth! Một ngày kia, ngươi sẽ làm vua!
Macbeth run sợ. Banquo liền hỏi chúng. Anh cũng muốn biết vận mạng mình; với anh, chúng cũng nói, thoạt tiên với vẻ thần bí, sau đó thật rõ ràng:
- Nhỏ hơn Macbeth, tuy nhiên lại lớn hơn.
- Kém may mắn hơn Macbeth, nhưng lại may mắn hơn nhiều.
- Tổ phụ của nhiều vị vua, ngươi không phải là vua!
Những lời dự ước huyền bí đó thấm sâu vào tâm hồn Macbeth. Đến lượt mình, chàng định hỏi, nhưng ba nhân vật râu dài, môi xệ đã tan biến như sương khói. Họ không thể biết gì thêm nữa, và mỗi người trong bọn họ đều tự động nhắc lại lời tiên tri dành cho người kia:“Tổ phụ của nhiều vị vua”. Macbeth nhắc lại và sẽ không bao giờ quên. Banquo liền đáp:“Ngày kia, ngươi sẽ là vua!”
Hầu như điều dự đoán bắt đầu ứng nghiệm tức khắc. Đức vua khen thưởng chiến công hiển hách của Macbeth bằng cách ban tặng cho chàng tất cả di vật và chức tước của nam tước Cawdor, kẻ phản phúc đã bị xét xử và trừng phạt. Macbeth, quá xúc động, chẳng biết mình có phải là trò đùa của bọn yêu tinh quỉ quái không.
Tương lai có vẻ trải đầy hoa gấm, nhưng cõi lòng chàng rúng động, tóc chàng dựng ngược vì kinh hãi, một ý nghĩ giết người thoáng qua óc, chàng bất động và câm nín, cảm thấy cái ý tưởng khủng khiếp ấy đang lớn dần trong chàng, trong lúc Banquo cứ chế riễu cho rằng bạn mình đang bỡ ngỡ làm quen với địa vị mới “cũng vướng víu như những chiếc áo mới”.
Và sau đó, trước mặt đức vua cả tin, hân hoan bày tỏ sự biết ơn đối với chàng và yêu cầu lòng trung thành của chàng đối với người kế nghiệp. Macbeth nghĩ rằng chính kẻ này, thái tử Malcolm, mới là chướng ngại sẽ khiến chàng lao đao, hoặc là chàng phải làm bừa để vượt qua.
Ray rứt bởi những ý nghĩ đó, chàng cáo từ vua Duncan, về viết thư cho vợ, báo cho nàng hay chức vụ mới của mình, đồng thời với việc đứa vua sẽ hạ cố đến thăm và ngủ đêm tại nhà họ.
Phu nhân Macbeth được biết qua lá thư chồng, lời tiên tri của bọn phù thủy, cả chiến thắng và những danh vọng mới. Nàng đắn đo, cân nhắc, nàng hiểu rõ chồng mình và tham vọng của chàng, nhưng anh ta “tràn trề những tình cảm yếu đuối của con người”, chàng khao khát quyền uy, nhưng muốn chiếm nó một cách “chính trực”, chàng muốn thành đạt nhưng không chịu chơi trò gian lận. Và nàng nghĩ phải truyền sự can đảm của mình cho chồng và thúc đẩy chồng đến được với vận hội của chàng. Khi nàng biết rằng đức vua Duncan sẽ ngủ lại dưới mái nhà họ, nàng rùng mình trước những chết chóc, tiếng quạ kêu ai oán, báo hiệu đức vua đến, và khi Macbeth gặp vợ, cả hai quyết định nhúng tay vào tội ác, trước cả khi bàn bạc với nhau. Nàng hỏi:
- Chừng nào ông ta đi?
Chàng đáp:
- Ngày mai, theo như ông ta yêu cầu!
Và nàng chép miệng:
- Ôi! Chẳng bao giờ mặt trời thấy được cái ngày mai ấy!
Rồi, sau một lát im lặng: “Em phải lo chuẩn bị đón khách. Còn anh, anh hãy bày tỏ thái độ cương quyết, mọi cái khác cứ để mặc em”.
Cả hai kính cẩn tiếp rước đức vua nhân từ Duncan. Ngài hoan hỉ được trú ngụ trong nhà một chư hầu trung tín, rất thích thú vì không khí tươi mát và trong lành nơi chỗ ở của họ, những con chim én làm tổ trên dãy vòm cuốn. Người ta đốt đuốc, người ta tổ chức yến tiệc linh đình và nhạc kè ô-boa nổi lên rền rĩ. Macbeth không thể nào ngồi yên trong bàn tiệc. Chàng lẻn ra ngoài để trầm tư. Chàng tự nhủ mình nên tha cho nhà vua, vì chàng là hoàng thân, là kẻ thần dân của ngài, lại là chủ trọ nữa. Đức vua anh minh đức độ và nhân ái, bao nhiêu tính tốt biện hộ cho ngài. Nhưng bà vợ xộc tới nhận thấy chàng dao động yếu đuối, đã dùng lời cay chua xỉa xói chồng:
- Thế là trong hành động anh run sợ; còn trong ham muốn, anh lại tỏ ra dũng cảm? Anh mơ ước chiếm được ngai vàng để cho đời anh vinh hiển, mà lại cứ sống hèn nhát với chính mình! Anh khoe khoang dám làm tất cả những gì một người đàn ông có thể làm, rồi giờ đây, khi thời cơ đưa đến anh lại thối lui thay vì phải hành động!
- Nhưng nếu chúng ta thất bại thì sao? –Macbeth thốt lên một cách khiếp nhược.
- Thất bại à? Nếu anh không mềm yếu, làm sao hỏng việc được? Khi Duncan thiếp ngủ, em sẽ biết cách khiến hai tên cận thần rũ liệt vì rượu thịt, để chúng ngủ vùi một giấc nặng nề. Và ai cấm chúng ta đổ tội cho bọn võ quan say sưa đó?
- Tốt nhất –Macbeth đã tỉnh táo trở lại, nói thêm- là chúng ta vấy máu lên người bọn mê ngủ và sử dụng chính những con dao của chúng!
Phu nhân Macbeth còn tiên liệu cả việc phải la hoảng và kêu than thế nào trước thi thể người khách trọ bị thảm sát.
Đêm đã tới, khách đều an giấc, tặng vật của vua và viên kim cương ngài biếu, vị phu nhân đã cất kỹ. Macbeth ngồi đợi vợ mình trong sân lâu đài, ngay cửa cầu thang dẫn đến phòng vua Duncan. Chàng ngỡ như thấy con dao găm lượn lờ trước mắt, cán dao quay về phía tay chàng, máu nhỏ ròng ròng từng giọt, nhưng giờ đây chàng không do dự nữa, và tiếng chuông ngân lên báo hiệu mọi việc đã sẵn sàng, chàng men lên phòng đức vua.
Đứng ngay nơi cửa, phu nhân Macbeth chờ chồng quay xuống. Nàng lo lắng cho sự chậm trễ của chồng. Chẳng phải là nàng đã một mình bố trí hết đó sao, chuẩn bị các dao găm, hé mở các cửa và phục rượu cho bọn cận thần say khướt? “Nếu đức vua không phảng phất giống cha ta, -nàng nói- chắc ta sẽ tự làm lấy nốt.” Cuối cùng, Macbeth trở lại, tay đẫm máu, hoảng sợ vì tiếng cú kêu và dế gáy, khiếp hãi khi nghe bọn người hầu lâm râm cầu nguyện trong cơn mê ngủ, môi miệng giá lạnh chẳng thế nào thốt lên được tiếng: A-men! Chàng nghe như ai đó hét lên: “Đừng ngủ nữa! Glasmis đã giết chết giấc ngủ, vì thế Cawdor không còn ngủ nữa. Macbeth cũng không thể nào ngủ được nữa!” Chàng còn giữ con dao găm, nhưng không dám quay lên phòng đức vua. Chính phu nhân Macbeth phải lên vấy máu vào mặt và tay bọn cận thần, rồi đặt mấy con dao găm bên cạnh họ. Như thế, cả hai vợ chồng đều đã nhúng tay vào máu, khiến Macbeth cứ nhìn mà kinh hoảng.
- Bàn tay nào thế kia? Nước của cả đại dương chắc gì đã rửa sạch vết máu trên đó?
Vợ chàng bình thản trả lời:
- Tay em cũng một màu với tay anh thôi, nhưng em sẽ xấu hổ biết bao nếu có một quả tim yếu hèn đến thế! Lại đây, một tí nước cũng đủ cho ta xóa sạch hành vi vừa qua.
Rồi họ rút về phòng riêng, để chờ mọi người thức dậy và phát hiện cái tội ác ghê tởm.
Sáng sớm, Macduff phát giác ra vụ giết người. Anh kéo chuông báo động, tất cả đổ xô đến, và Macbeth, như một chủ trọ bất bình, vì có án mạng xảy ra ngay trong nhà mình, liền ra tay tàn sát bọn nội thần cho chúng câm miệng hẳn. Malcolm và Donalbain hai hoàng tử vội bỏ trốn sang Anh, “lánh xa cái nơi có dao găm giấu trong nụ cười con người”. Chẳng bao lâu sau, Macbeth vừa cảm thấy thoải mái trong tội ác, đã vu khống cho họ âm mưu giết cha. Hắn khai thác tình huống tuyệt vời đến mức, ngay vào ngày thánh thể vua Duncan được chuyển vào ngôi tiểu giáo đường Saint Colomban, nơi lưu giữ hài cốt tiên tổ của ngài, thì hắn, Macbeth lên ngôi vua ở Scone. Lời tiên tri của bọn phù thủy thế là ứng nghiệm.
Vua Macbeth ngự trong cung điện, giữa đám triều thần. Hắn cho mời Banquo, người bạn cố tri, đến dự đại yến, và trước giờ ăn tối, hắn ân cần dò hỏi hành trình của bạn mình. Kẻ nham hiểm muốn biết chắc bọn sát nhân mà hắn cấp tốc phái đi, có giết được Banquo không, kể cả trường hợp có cậu con Fléance đi theo. Bởi Macbeth nghĩ rằng; vua chẳng là gì cả, nếu làm vua mà không an toàn. “Banquo đã nghe những lời tiên tri của bọn phù thủy -hắn tự nhủ- thì sao anh ta lại không có quyền mơ ước? Bọn chúng chào anh ta như là tổ phụ của nhiều vị vua tiếp nối, như thế bọn chúng đã đặt lên đầu ta chiếc vương miện của ông vua tuyệt tự. Thế ra, vì họn hậu duệ của Banquo, mà ta đánh mất linh hồn a!”
Đã dạn dày trong tội ác, hắn giấu giếm cả với phu nhân Macbeth, khuyên nàng nên có lời lẽ dịu dàng và đằm thắm với Banquo trong buổi tiệc. Qua câu nói mập mờ, nàng cảm thấy rõ hắn đang âm mưu một trò xảo quyệt nào đây, dù sao hắn đã không để nàng liên lụy vào tội ác mới mới này.
Buổi tối, trên bàn tiệc, Macbeth cho an vị mỗi người theo thứ bậc mình. Ra vẻ một chủ nhân lịch duyệt, hắn lân la bên các thực khách, nốc từng cốc rượu tràn với mỗi nhóm. Nhờ thế, hắn có thể đến gần tên mật sứ lấm máu Banquo, mà gã vừa cắt cổ và xô xuống hố sâu. Nhưng Macbeth nghiến răng ken két, khi biết rằng Fléance đã trốn thoát. Tuy thế hắn buộc phải ra vẻ niềm nở, ba hoa vài câu khách sáo, ngạc nhiên nhận ra chỗ Banquo bỏ trống, đùa cợt về sự phạm thượng đó, rồi bất thần, khi người ta thỉnh cầu hắn ngồi vào cái bàn vắng mất vị khách đó, hắn chợt thấy hồn ma của Banquo ngồi đấy, ngay trước mặt hắn và hắn buộc miệng thều thào:
- Ngươi không thể nói rằng chính ta đã làm thế. Đừng đong đưa trước mắt ta mái tóc nhuộm đầy máu của ngươi. Kìa những người chết đang trỗi dậy, đuổi chúng ta ra khỏi ghế ngồi!
Trước những lời điên loạn đó, mọi người đều hoang mang. Tuy nhiên, phu nhân Macbeth trấn tĩnh họ, tiết lộ rằng đức vua thường bị ám ảnh bởi những điều kỳ quặt, rồi hạ giọng, nàng xoa dịu chồng, vừa chế giễu những ảo ảnh cũng như nỗi sợ hãi của chồng, khéo đến mức hắn không còn thấy hồn ma đâu nữa.
Hắn cáo lỗi, lại ngồi xuống, rót tràn cốc rượu nho với bộ điệu kiêu căng, rồi nâng cốc uống mừng Banquo…Ngay lúc đó, hồn ma lại ngồi vào chỗ cũ, và Macbeth mê sảng, mặt mày tái xanh vì khiếp hãi:“Lui ngay! Xa hẳn đời ta! Cho đất chôn vùi ngươi đi! Xương ngươi không còn tủy, máu ngươi đã khô lạnh! Chẳng còn ý tưởng nào trong hố mắt lờ đờ của ngươi nữa!
Lần này, sự biến bùng ra dữ dội. Dù cho Macbeth đã hồi tỉnh, phu nhân vẫn để bọn thực khách nhốn nháo kéo nhau ra về, lo lắng tìm cách che giấu cơn điên loạn của chồng.
Nhưng Macbeth lại phát hiện còn nhiều người vướng bận hắn ta, rằng cần phải chém giết thêm nữa, “lặn sâu vào biển máu” phải trui rèn bằng thói quen bởi vì như hắn nói một cách vô ý thức: “chúng ta còn quá non trẻ trong tội ác”.
Bọn phù thủy chuẩn bị nồi chảo, bùa mê, ngải độc và các thứ trù yểm để đón hắn. Trong cái nồi phù phép, sôi sục cái món hỗn tạp mà làn khói bốc lên biểu hiện các sự kiện của tương lai; một thứ canh âm phủ sủi bọt trong đó: thịt lưng răn dầm, mắt kỳ nhông, đùi ếch, lông dơi, lưỡi rắn lục, chân cắc kè, cánh chim cú, vảy rồng, răng sói cái, xác ướp yêu thuật, rễ độc cần nhổ trong đêm, ngón tay trẻ sơ sinh bị bóp cổ ngay khi ra đời. Đó là những vị thuốc mà các mụ bạn của cô đơn và bóng tối trộn thành món súp sền sệt tối độc.
Macbeth sợ hồn ma hơn là các mụ phù thủy này. Hắn đến khẩn cầu chúng tiết lộ việc tương lai. Chúng cười khẩy, nhạo báng, ném thêm nhiều vật ghớm ghiếc vào nồi nước hỏa ngục và vào đống lửa, thế là những quyền lực kỳ bí từ từ phát lộ. Không cần Macbeth phải nói, tư tưởng của hắn đã được hiểu thấu. Bên trên làn khói ô uế, nhiều khuôn mặt lần lượt hiện ra.
Thoạt tiên, một cái đầu đội mũ sắt hét lên:“Macbeth! Macbeth! Macbeth! Hãy coi chừng Macduff”. Rồi một cậu bé bê bết máu kêu la:“Hãy tàn bạo và cương quyết, vì chẳng ai do đàn bà sinh ra có thể hại được Macbeth!”
Cuối cùng, lại một cậu bé đội vương miện, tay cầm cành cây xanh nói:“Hãy kiêu hãnh lên đi, Macbeth; ngươi chẳng bao giờ chiến bại, trừ khi nào khu rừng Birnam đi về phía đồi Dunsinane để chống lại ngươi”.
Macbeth đắc thắng, nhưng hắn muốn biết đám hậu duệ của Banquo có được trị vì trên vương quốc không. Mặc những lời khuyên can của bọn phù thủy, hắn nài nỉ, nguyền rủa, bức bách. Thế rồi, giữa làn khói cuồn cuộn, cái chảo lút sâu xuống đất, và hắn thấy lần lượt hiện lên tám vị vua đội mão vàng mà hồn ma Banquo vừa chỉ vừa mỉm cười. Vị vua thứ tám cầm một chiếc gương soi, trong đó ta thấy nhạt nhòa nhiều gương mặt, mang hai quả cầu và ba vương trượng.
Và khi Macbeth kịp hoàn hồn, thì cái vòng ma quái của các mụ phù thủy đã tan biến, mang ảo ảnh chìm theo làn uế khí.
Tràn đầy tin tưởng, hắn tiến hành các dự kiến sát nhân bằng sự phản trắc và mưu lược. Hắn giết hại tất cả những ai làm phiền hắn, mà trước hết là Macduff. Là chư hầu trung tín, ông này quyết bảo vệ người thừa kế hợp pháp của vương quốc. Không thể giết ông, vì ông vừa trốn sang Anh quốc, nhưng ông còn bỏ lại trong lâu đài bà vợ, các con và những người xấu số thuộc dòng họ ông. Chính thông qua họ, mà Macbeth tấn công ông. Một nhóm đạo tặc đầu trâu mặt ngựa, xông và Fife chém giết phu nhân Macduff, lũ con cháu và tất cả người nhà. Thật là một cuộc thảm sát man rợ và cái xứ sở đau thương rỉ máu, quằn quại dưới ách bạo tàn, khóc than sau mỗi nhát dao, mỗi ngày mang thêm một vết thương mới. Người ta ngại ngùng không dám hỏi chuông đang gọi hồn ai:“Macbeth như một con yêu tinh, đầy dẫy tật xấu, tham lam vô độ, hiểm độc và khát máu”.
Xa kia, bên đất Anh, Macduff đã tìm gặp Malcolm, vị vua đích thực kế nghiệp ngai vàng, và chàng trai trẻ hoài nghi vì bao tai biến dồn dập xảy ra đã đem sự ngay thẳng và đức hạnh của Macduff ra thử thách. Rồi cả hai, họ nhận được sự trợ giúp quí báu của vua Anh quốc: một đội quân mười ngàn người. Thế là họ chuẩn bị giải phóng Ecosse. Chao ôi! Cần phải cho Macduff biết tin “con diều hâu hiểm độc kia đã xông vào tổ, sát hại cùng một lúc đàn gà con xinh xắn và cả mẹ chúng nữa!” Đau thương đã biến thành uất hận, bất hạnh đó mài sắc thêm lưỡi kiếm của ông; Macbeth quả chỉ còn chờ này sụp đổ.
Ở Dunsinane, vua Macbeth bận hành quân; trong cung điện, thế nữ phải mời một y sĩ đến khám căn bệnh quái lạ của hoàng hậu. Đêm nào cũng thế, lừ đừ nhợt nhạt và thẫn thờ, bó đuốc trên tay, bà đi thất thểu khắp các phòng và dãy hành lang. Bà tìm gì thế ? Đôi mắt mở to của bà ta nhìn thấy những gì mà tâm hồn lương thiện không nhìn thấy. Bà xoa tay, kỳ cọ hàng giờ đôi bàn tay nhỏ nhắn. Bà lẩm bẩm:
- Biến đi chứ, cái vết bẩn khốn kiếp, biến đi, ta bảo! Có ai ngờ lão già ấy lại chứa bao nhiêu là máu trong người? Sao, đôi tay này chẳng bao giờ sạch được ư? Tất cả dầu thơm xứ Arabie cũng không thể làm sạch bàn tay nhỏ này sao? Nào, rửa tay đi, đưa áo ngủ đây! Đừng có mà tái xanh thế! Ta nhắc lại cho ngươi rõ, Banquo đã bị chôn kín rồi, hắn không thể ra khỏi mồ đâu. Hô! Hô! Hô!
Can bệnh quái gỡ vượt quá tài nghệ chữa trị của viên ngự y.
- Hoàng hậu! - ông nói - Có lẽ cần tu sĩ hơn! Chúa ơi! Cầu Chúa tha tội cho tất cả chúng ta!
Thế rồi bà chết, bởi vì ai chẳng biết liều thuốc giải độc êm dịu của lãng quên và bà thì không thể nào rứt bỏ khỏi ký ức mình những giày vò và hối hận đã bám chặt trong đó.
Macbeth chẳng còn thì giờ đâu mà khóc than cho vợ, cuộc sống hắn vốn đã đầy dẫy những chuyện khủng khiếp, và nỗi kinh hoàng hầu như quen thuộc với những tư tưởng sát nhân, không còn khiến hắn xúc động nữa. Vả lại, hắn còn bao nhiêu điều lo nghĩ khác, lực lượng quân sự Anh tiến gần, dưới sự chỉ huy của Malcolm và Macduff.
Họ đến từ hướng rừng Birnam. Macbeth tăng cường phòng ngự Dunsinane, và để ru ngủ sự hoang mang của mình, hắn luôn tự nhủ:“Cánh rừng Birnam chưa đi về phía ta, và Malcolm là do một người đàn bà sinh ra. Thế thì ta sợ gì chứ?
Cờ hiệu của hắn phấp phới một cách ngạo mạn trên thành lũy, hắn cười nhạo đoàn quân vây thành, những tiếng la ó, những nỗi sợ sệt. Nhưng một mật báo viên đến cho hắn hay rằng cánh rừng Birnam đang bắt đầu tiến lên trên bề rộng khoảng ba dặm, như một lùm cây di động.
Lần này, hắn thực sự nao núng, hắn bắt đầu ngờ vực những câu đoán mập mờ của bọn quỉ sứ. Hắn nghĩ đến việc bỏ trốn, nhưng không, hắn muốn được chết da ngựa bọc thây và chống cự một cách quả cảm trận tiến công đã khởi sự trong tiếng kèn rầm rộ inh tai. Malcolm khôn ngoan và thận trọng, đã ra lệnh cho mỗi người lính đều chặt một cành cây mang trước người, để ngụy trang và che giấu quân số để địch không đánh giá nổi lực lượng của mình.
Trận chiến nổ ra, Macbeth còn bấu víu vào niềm tin rằng chẳng ai do đàn bà sinh ra có thể đánh ngã hắn. Rồi hắn mải mê chém giết không chút sợ hãi và cứ tưởng mình vô địch. Cuối cùng, đến lúc Macduff tìm gặp hắn giữa trận tiền, Macbeth say máu hét lên:
- Ngươi phí công vô ích. Ta mang trong mình một đời sống kỳ diệu, chẳng có ai do đàn bà sinh ra có thể đụng đến ta!”
Tức thì, Macduff cười khẩy:“Mi tuyệt vọng rồi! Macduff không do một người đàn bà đang sống sinh ra, vì mẹ ta đã chết ngay khi ta ra đời!”
Phen này, thế là hết, chẳng còn đâu đại đởm của Macbeth. Những lời tiên tri đã quay lại chống hắn, và định mệnh đã đánh gục hắn. Nhưng hắn không muốn chết trước mặt chàng trai trẻ Malcolm, nên cố tự vệ để tìm đường tẩu thoát.
Ngay sau đó, xứ Ecosse được tự do và Macduff lại hiện ra, vác cây cọc cắm cái đầu khốn kiếp và cả đoàn quân reo hò chào đón vị vua trẻ.



thế giới Hồi giáo xưa và nay Bùi Văn Chấn

Phanblogs thế giới Hồi giáo xưa và nay Bùi Văn Chấn  "Đáng lẽ ra đạo Do Thái, đạo Ki Tô và đạo Hồi đều cùng thờ chung một Chúa thì phải có chung một Kinh Thánh duy nhất mới phải. Trong thực tế, mỗi đạo đều có Thánh Kinh riêng và đạo nào cũng tự cho Thánh Kinh của mình mới là chân lý tuyệt đối. 

thế giới Hồi giáo xưa và nay Bùi Văn Chấn
thế giới Hồi giáo xưa và nay Bùi Văn Chấn

thế giới Hồi giáo xưa và nay Bùi Văn Chấn doc
thế giới Hồi giáo xưa và nay Bùi Văn Chấn pdf
thế giới Hồi giáo xưa và nay Bùi Văn Chấn txt


Cả 3 đạo đều tự cho Thánh Kinh của mình là những “sách Mặc Khải”.
- Kinh Torah (Cựu Ước) được Thiên Chúa mặc khải cho Thánh Mai-sen (Moses) khoảng năm 1250 TCN trên núi Sinai.
- Các sách Tân Ước/Phúc Âm là các sách Thiên Chúa mặc khải cho Thánh Phao Lô và bốn vị Thánh Sử: Matthew, Mark, Luke và John trong thế kỷ 1.
- Kinh Koran là sách Thiên Chúa mặc khải cho tiên tri Muhammad qua trung gian của thiên thần Gabriel trong 22 năm liên tục (610-632).

Trước khi có kinh Koran, người Ả Rập có mặc cảm là một chủng tộc thiếu văn hóa và họ tỏ ra trọng nể người Do Thái và Ki Tô. Cho nên, trong ngôn ngữ Ả Rập có danh từ “Dhimmi” để gọi chung cho Do Thái và Ki Tô. Danh từ này có nghĩa là “những người có sách Thánh Kinh” (People of the Books). Sự xuất hiện kinh Koran vào đầu thế kỷ 7 đã đem lại cho các dân tộc Ả Rập một niềm tự hào vì từ nay họ có Thánh Kinh viết bằng tiếng Ả Rập.

Họ đón nhận đạo Hồi là đạo của dân tộc chứ không phải là đạo ngoại lai. Kinh Koran và đạo Hồi là hai yếu tố quan trọng đem lại sự hứng khởi tinh thần và là chất keo văn hóa nối kết các bộ lạc Ả Rập lại với nhau và biến đại khối Ả Rập thành một lực lượng chính trị và tôn giáo"








Kỳ Án Ánh Trăng Quỷ Cổ Nữ

Phanblogs Kỳ Án Ánh Trăng - Quỷ Cổ Nữ Quỷ Cổ Nữ là bút danh chung của một cặp vợ chồng người Trung Quốc đang sống ở Mỹ, vợ là Dư Dương - kỹ sư có thâm niên về phần mềm máy tính của một công ty đặt tại thung lũng Si-li-côn (Mỹ); chồng là Dị Minh - chuyên gia y học nổi tiếng trong giới học thuật. Mùa xuân năm 2004, hai người dùng tên thật, cùng xuất bản cuốn tiểu thuyết dài "Mùa xuân trên dòng sông băng", đã được giới chuyên môn đánh giá cao.

Kỳ Án Ánh Trăng Quỷ Cổ Nữ
Kỳ Án Ánh Trăng Quỷ Cổ Nữ

Kỳ Án Ánh Trăng Quỷ Cổ Nữ pdf
Kỳ Án Ánh Trăng Quỷ Cổ Nữ txt
Kỳ Án Ánh Trăng Quỷ Cổ Nữ doc


Giữa năm 2004, hai vợ chồng lấy bút danh là Quỷ Cổ Nữ (trên mạng) công bố tiểu thuyết kinh dị ly kỳ "Kỳ án ánh trăng", gây chấn động không ngờ. Chỉ trong ba tháng ngắn ngủi đã khiến rất nhiều độc giả trên mạng quan tâm. Đây là câu chuyện ly kỳ, hấp dẫn có sức mê hoặc mạnh mẽ khiến ta không thể không đọc liền một mạch. Trên mạng có trên 10 triệu độc giả, khắp Bắc Mỹ và Châu Á có 10 trang Web cùng cạnh tranh truyền tải. Khi đang sáng tác nửa chừng, tác giả nhận được lời đề nghị từ Nhà xuất bản Nhân Dân Thượng Hải xin phép được ký hợp đồng xuất bản. Mồng 1 Tết âm lịch năm 2005, tiểu thuyết "Kỳ án ánh trăng" đã ra mắt bạn đọc, và Quỷ Cổ Nữ đã bất ngờ trở thành một trong những đại diện tiêu biểu của các tác giả văn học thể loại truyện kinh dị Trung Quốc.

"Kỳ án ánh trăng" của Quỷ Cổ Nữ mới chào đời hai năm song đã xác định được vị trí tiên phong hàng đầu của mình; trở thành một hiện tượng của văn hoá đọc. Cuối tháng 3 năm 2006, trong cuộc bình chọn "Đi tìm Stephen King của Trung Quốc'' - tác giả đã giành được vị trí số 1 (trên mạng) trong số 10 tác giả viết tiểu thuyết kinh dị đặc sắc nhất trong lòng bạn đọc. Ngay sau đó, Quỷ Cổ Nữ được tờ "Tin tức buổi trưa" bình chọn là "Người cầm bút khổng lồ của năm 2005".







Xứ Tuyết Yasunari Kawabata

Phanblogs Xứ tuyết (tiếng Nhật: 雪国 Yukiguni, Tuyết quốc) là tiểu thuyết của văn hào Nhật Bản Kawabata Yasunari, được khởi bút từ 1935 và hoàn thành năm 1947. Trước khi xuất bản dưới dạng ấn phẩm hoàn chỉnh, tác phẩm đã được đăng tải thành nhiều kỳ trên nhật báo. Xứ tuyết được đánh giá là quốc bảo của nền văn học Nhật Bản. Cùng với Ngàn cánh hạc (千羽鶴 Senbazuru, Thiên vũ hạc) và Cố đô (古都 Koto, Cổ đô), Xứ tuyết đã mang lại cho tác giả giải thưởng Nobel văn học vào năm 1968, nhân kỷ niệm 100 năm (1868-1968) hiện đại hóa văn học Nhật Bản với công cuộc cải cách Minh Trị.

Xứ Tuyết, Yasunari Kawabata, sách hay, ebook,

Đánh giá về tác phẩm, dịch giả người Pháp Armel Guerne cho rằng "Đây là một tác phẩm thuần túy Nhật Bản khác với lối tư duy trong ngôn ngữ phương Tây vốn nặng về gò bó duy lý. Nghệ thuật mờ ảo, cái Đẹp được miêu tả tinh tế lộng lẫy, lối kết cấu gần như vô hình". Quả thật, về phương diện kết cấu, Xứ tuyết có một cốt truyện đơn giản, nhưng nó thể hiện đỉnh cao mỹ học của Kawabata, một "thẩm mĩ của chiếc gương soi" như trước đó đã từng biểu hiện trong truyện ngắn nổi danh "Thủy nguyệt", thông qua cái nhìn huyền ảo hóa thế giới thực. Ngay đầu tác phẩm người đọc đã thấy vùng đất tuyết được miêu tả như một thế giới khác, ở bên kia đường hầm: Một đường hầm dài ngăn cách giữa hai vùng và đây đã là vào Xứ tuyết. Chân trời đã rạng trong bóng đêm. Con tàu chậm lại.... Từ đây Shimamura, một lữ khách u buồn, bước vào thế giới đó như bước vào truyện cổ tích, nơi mà mọi thứ đều xưa cũ với sàn nhà cũ, với tấm biển cũ rích của phòng trà, với chiếc mặt nạ cổ xưa, cỗ xe đã tròn một thế kỷ v.v. Nhưng đó không phải là một thế giới của cổ tích, của những yếu tố hoang đường mà là một thế giới được cảm nhận như một đối chứng với thế giới thực về bản ngã và cái đẹp.
Kawabata Yasunari bắt đầu văn nghiệp từ rất sớm, ngay hồi trung học đã có rất nhiều thơ và truyện ngắn của ông được ấn hành. Ông bắt đầu được công nhận vào năm 1926 với truyện ngắn Vũ nữ xứ Izu và trở thành ngôi sao sáng khi hoàn thành tác phẩm Xứ tuyết vào năm 1947. Sau đó, tên tuổi ông càng chói sáng hơn với những tác phẩm như : Ngàn cánh hạc (1947), Tiếng rền của núi (1954), Hồ (1955), Người đẹp say ngủ (1961), Cố đô (1962), Đẹp và buồn (1964).
Kawabata Yasunari bắt đầu văn nghiệp từ rất sớm, ngay hồi trung học đã có rất nhiều thơ và truyện ngắn của ông được ấn hành. Ông bắt đầu được công nhận vào năm 1926 với truyện ngắn Vũ nữ xứ Izu và trở thành ngôi sao sáng khi hoàn thành tác phẩm Xứ tuyết vào năm 1947. Sau đó, tên tuổi ông càng chói sáng hơn với những tác phẩm như : Ngàn cánh hạc (1947), Tiếng rền của núi (1954), Hồ (1955), Người đẹp say ngủ (1961), Cố đô (1962), Đẹp và buồn (1964).


Thi pháp ảo hóa cũng thể hiện trong tái họa nhân vật, nhân vật nữ - và cả đàn ông cũng vậy - trong các tác phẩm của Kawabata thường được phác thảo mờ nhạt và mong manh xét về mặt con người, họ chỉ được miêu tả như một yếu tố của khung cảnh được ghi lại qua sự cảm nhận của giác quan. Mặc dù Komako, theo Kawabata, là một nhân vật có thực và chính điều đó tạo sức sống sinh động tuyệt vời của nhân vật trong tác phẩm, nhưng qua cái nhìn huyền ảo của tác giả, hóa thân trong hình tượng nhân vật Shimamura, luôn thể hiện vẻ đẹp của Komako qua những tấm gương soi, qua ánh trăng hắt xuống và khi trực diện thì mọi chi tiết đều chiếu vào nhau, hóa lung linh.

Cứ thế, Xứ tuyết thực sự là bản giao hưởng ngân vang trong lòng người một nỗi u buồn, một hoài niệm về cái Đẹp, về cành hoa tuyết đã tan, về mối tình đã mất, và tất cả được tái họa trước mắt độc giả như trong một bức tranh thủy mạc với một ngôn ngữ miêu tả chính xác vô song, phản ánh được thế giới cảm giác rất riêng của tác giả. Cái nhìn huyền ảo xuyên suốt qua cõi thực và hư, nhưng Xứ tuyết không phải là một thế giới trong một tấm gương soi, mà quan trọng hơn là có một thế giới thực và một thế giới ảo cùng soi chiếu vào nhau, tồn tại trong nhau bằng những sắc màu lung linh, huyền ảo. Đó là sự tương giao của nội tâm và khung cảnh; của sự nối tiếp thời tiết Xuân, Đông rồi Thu; của sự hội ngộ và chia ly; của sự sống và cái chết; của màu tuyết trắng và màu lửa đỏ; của tình yêu thuần khiết và tình yêu đam mê. Ở nơi đó con người dường như đạt tới sự tự do về tinh thần trong hành trình tìm lại chính mình, với sự nảy nở của tình yêu và những rung động sâu xa trước cái mĩ lệ đang hiện hữu.

Onsen geisha Matsuei tại Yukiguni no Yado Takahan, Yuzawa, Nhật Bản, người mà Yasunari Kawabata đã gặp năm 1934, là hình ảnh để xây dựng nhân vật trong truyện. (Nguồn: wikipedia)
Onsen geisha Matsuei tại Yukiguni no Yado Takahan, Yuzawa, Nhật Bản, người mà Yasunari Kawabata đã gặp năm 1934, là hình ảnh để xây dựng nhân vật trong truyện. (Nguồn: wikipedia)

Xứ Tuyết Yasunari Kawabata.txt
Xứ Tuyết Yasunari Kawabata.pdf
Xứ Tuyết Yasunari Kawabata.doc





Sáu người đi khắp thế gian James Michener

Phanblogs Sáu người đi khắp thế gian James Michener: Cuốn tiểu thuyết giang hồ thượng hạng. Bạo lực, nạn phân biệt chủng tộc, quan điểm tình dục & hành trình phiêu lưu của những bạn trẻ qua những miền đất hùng vĩ là câu chuyện xuyên suốt trong cuốn sách Sáu người đi khắp thế gian này.


Nếu có bạn trẻ nào từng ước mơ chinh phục cả thế giới, thì sẽ vô cùng hào hứng khi đọc tập 1 của cuốn 6 người đi khắp thế gian này. Những khi chứng kiến Joe, Brittal hay Monica vượt qua mọi thứ, vứt bỏ tất cả “bỏ nhà ra đi” để chinh phục thế giới, chắc hẳn trái tim người đọc nó cũng sẽ rực cháy theo. Xách ba lô lên và đi thôi nào, các bạn trẻ!


Sáu người đi khắp thế gian James Michener.txt
Sáu người đi khắp thế gian James Michener.doc
Sáu người đi khắp thế gian James Michener.pdf


Sáu người đi khắp thế gian James Michener
Nhưng rồi, khi đọc hết tập 2, những kẻ mộng mơ nhất có lẽ cũng cần phải trầm ngâm suy nghĩ lại. Tất nhiên du lịch vòng quanh thế giới là một cái sung sướng tột đỉnh của những tâm hồn thích phiêu lưu, nhưng rồi khi giấc mơ chạm mặt đất, có lẽ ai cũng run rợ mà không dám quả quyết với cái mong muốn thuở ban đầu.

sáu người đi khắp thế gian

Bởi cái chết, chiến tranh & bạo lực xảy ra tức thì, ngay cạnh hành trình của họ.

Vậy thì, an toàn trở về có lẽ là khao khát lớn nhất, chứ không phải là ước mơ chinh phục địa cầu nữa rồi.

Đánh trọng tâm vào ước mơ của những cái tôi thích nổi loạn, không ngoa khi James Albert Michener được mệnh danh là thiên tài thấu hiểu giới trẻ. Qua cuốn tiểu thuyết phiêu lưu giang hồ thượng thặng này, chắc hẳn bạn đọc nào cũng phải gật gù thán phục & công nhận chân lý đó.

Ngoài ra thì 2 cuốn sách này có thể được xem là một bách khoa toàn thư về chiến tranh, chính trị, tôn giáo, tình dục & những nền văn hóa khác nhau. Lượng kiến thức đồ sộ trong mỗi chương sách không khỏi khiến độc giả và ngay cả những nhà nghiên cứu cũng phải trầm trồ.


[Tập 1] Nguồn cơn của hành trình chạy trốn hiện thực của sáu con người trẻ tuổi

Tập 1 của cuốn sách giới thiệu 6 nhân vật chính & hành trình từ quê hương bước tới với thành phố mặt trời, Torremolinos ở Tây Ban Nha, một cái tên thật khó nhớ, nhưng là điểm chung của họ, bốn người Mỹ, một cô tiểu thư nhà giàu ở Anh Quốc  & một cô gái Na Uy giàu nghị lực đầy khát khao vươn tới ánh sáng.

Cả 6 người với những lý do khác nhau và vô tình gặp nhau tại một nơi để rồi cuối cùng bánh xe định mệnh chở họ đi phiêu bạt giang hồ. Trước khi nói về hành trình đầy bất ngờ ấy, chúng ta sẽ cùng điểm qua khởi nguồn của mọi chuyện qua lời kể của nhân vật tôi – George Fairbanks, một ông già 61 tuổi vô tình quen biết với cả 6 người và cũng là người hướng dẫn các bạn trẻ trong suốt chặng đường chinh phục thế gian của họ.

Joe – tuổi trẻ là chân thật

Không có người nào điên rồ tới mức muốn chiến tranh hơn hoà bình: vì trong thời bình con trai chôn cất cha, còn trong thời chiến thì cha chôn cất con trai. (Herodotus)

Có một anh chàng sinh viên tên là Joe vì chán ghét chiến tranh & thông điệp chính trị cùng lời kêu gọi nhập ngũ chỉ để đi đánh nhau, đã quyết định vứt bỏ thẻ quân dịch của mình. Anh trở thành kẻ tị nạn chính trị khi mới 20 tuổi, rời đất nước để đến một nơi xa lạ dưới sự giúp đỡ của những lực lượng không ủng hộ chính phủ.

Ngày 1 tháng Giêng năm 1969, Joe bắt đầu hành trình đi vào cảnh lưu đày. Anh không hề nghĩ đến việc gọi điện thoại cho ông bố bà mẹ bất lực của mình: bởi anh hiểu là cha anh sẽ cằn nhằn còn mẹ anh sẽ khóc lóc….

Hành trình đến với thành phố mặt trời của Joe đúc kết bằng 2 từ : điên rồ! Nhưng tuổi trẻ có ai lại không muốn được một lần như anh ta cơ chứ!

Một kẻ thà bỏ trốn khỏi quê nhà chứ không nhất quyết “yêu đại một cô nàng nào đấy, tính kĩ chu kỳ rụng trứng & làm cô ta có bầu” để tránh quân dịch, một sinh viên luôn ám ảnh trong đầu là những băn khoăn với ý nghĩa “tội nghiệp người da đen phải đi lính, người da trắng thì không; người nghèo bị lôi ra trận, người khờ dại bị lùa đi lính & có thể bị bắn chết, người giàu & người thông minh thì sống an nhàn! Và Joe quy mọi tội lỗi, chán chường cảnh giả tạo là do một chính phủ đã thối nát và sai lầm từ gốc rễ. Anh không sử dụng những thủ đoạn đê hèn để trốn quân dịch như bao người “khôn ngoan” khác. Thậm chí ngay khi được hỏi lần cuối cùng, anh thà ra đi như một tội phạm chứ không thèm nhận lỗi vì đã gửi thư trả lại thẻ quân dịch. Và rõ ràng ra đi là một lựa chọn khôn ngoan, chí ít thì còn hơn là vùi những năm tháng trẻ tuổi của anh ở trong tù!

Chính những suy nghĩ dẫn Joe đến hành trình đi khắp thế gian sau này, là một minh chứng cho sự ngạo nghễ của những con người trẻ tuổi. Quyết tâm của Joe đủ lớn, để hành trình đi đến thành phố Torremolinos (một nơi mà người ta nói đủ mọi thứ tiếng trừ Tây Ban Nha) của anh trở nên dễ thở hơn bao giờ hết, dù lúc ra đi trong túi anh không có lấy một xu đáng tiền.

Britta – cô gái Na Uy và khát vọng nhìn thấy mặt trời

Britta được miêu tả là một cô gái đầy nghị lực xuất phát từ đảo Tromso, cách vòng Bắc cực hai trăm dặm về phía bắc. Lý do cô muốn rời xa quê hương rất đơn giản : cô khao khát được nhìn thấy tia sáng ấm áp từ Mặt trời, trốn xa vùng đất Na Uy tù túng!

Khá nhiều người bị bệnh lãnh cảm sau khi trải qua một trải nghiệm tình dục tồi tệ trong quá khứ, chẳng hạn như bị cưỡng bức, bị bạo hành…Tuy nhiên với Britta, một nạn nhân của lão già ghê tởm (bị hãm hiếp khi chỉ mới 15 tuổi), đã hoàn toàn vượt qua được vấn đề này và có những trải nghiệm ngọt ngào với anh chàng bạn trai lúc chỉ mới 18 tuổi.

Và đặc biệt hơn, dù anh chàng kia có khả năng làm tình tuyệt vời đến mấy, cô vẫn quyết định rời bỏ anh ta để ra đi đến với thành phố Mặt trời, với hành lý là một tấm vé đã bóc sạch số tiền của cô dành dụm được trong suốt thời gian ở quê nhà

Tại sao cô gái trẻ lại dũng cảm từ bỏ quê hương để chạy đến một nơi xa lạ không người thân thích? Có 2 lý do.

Một là vì bố cô, một người hùng của quá khứ khi chống phát xít ở chiến tranh thế giới, và một gã thất bại ở hiện tại khi mà giấc mơ đi đến hòn đảo Cleylon của ông chỉ mãi mãi là ảo vọng. Ông chỉ biết mơ ước vào ban đêm với những câu hò của Thợ mò ngọc trai, trong khi ban ngày thì vất vả kiếm sống ở một công ty xuất nhập khẩu, một nhân viên quèn với đồng lương chết đói.

Lý do thứ hai.  Hằng năm cứ đến và ngày hai mươi hai tháng Chín, trong chu trình lên xuống đã định trên khoảng trời, ngay cả giữa trưa mặt trời cũng khuất dưới đường chân trời, nghĩa là ngày thì ngắn và đêm thì dài vô tận. Người dân ở Tromso nói rằng “chúng ta đã ở trong đường hầm”. Nghĩa là bóng tối gần như bao phủ toàn bộ thời gian của khu vực, ngoại trừ một màn sương xám mỏng manh lúc 12h trưa.

Với Britta thì đường hầm đó vô cùng khủng khiếp. Cô khao khát đi đến thành phố nào đó khác, để được thấy Mặt trời!

“Khi bạn mơ ước một thứ gì đó, cả vũ trụ sẽ chung tay giúp đỡ bạn” Câu nói của Nhà giả kim rất thích hợp để minh họa về trường hợp này của Britta. Với những nỗ lực phi thường của cô cộng thêm một may mắn không thể tin nổi, Britta đã có tấm vé để đến Toremolinos, đối với người khác thì đó là một chuyến du lịch 15 ngày đơn thuần, còn đối với cô, đó là một hành trình một đi không trở lại, nơi cô mơ ước được sống một cuộc đời khác, một hành trình rạng rỡ dưới ánh mặt trời.

“Con sẽ không bao giờ quay lại…không bao giờ. Mẹ nói với cha nhé.”


Monica – Cô tiểu thư người Anh và hành trình lang bạt không mục đích

Nếu như Joe rời tổ quốc chỉ để trốn tránh cái hiện thực đáng chán là anh phải làm những việc vô đạo đức để tránh quân dịch, hoặc là nhập ngũ để chiến đấu với một lý tưởng không hòa bình. Anh rời quê một cách đầy anh dũng, từ bỏ thiên đường của nhiều người để đến một nơi đầy bão tố mà anh chưa từng tưởng tượng.

Nếu như Britta bỏ nhà ra đi chỉ vi khao khát một cuộc sống tốt đẹp hơn, để quên đi ngày tháng bình dị đến chán ngán cùng những người tình chẳng đi đến đâu. Một nỗ lực, một ý chí của một cô gái trẻ đáng ngưỡng mộ.

Thì Monica, tiểu thư Monica là đại diện cho một hình ảnh vô cùng không đẹp của tuổi trẻ. Hiếu thắng, không màng đến kết cục & sống bù khú vấp váp ngớ ngẩn với ma túy và tình dục. Mặc dù lý do cô ra đi, chán ghét sự lãnh đạo của cha cô tại cộng hòa Vwadra, một quốc gia châu Phi giả tưởng, và muốn tránh xa cái bóng quá lớn của ông ấy, một phát ngôn viên, một chính trị gia, một nhà ngoại giao Anh thất bại thảm hại.

Nhưng cô chạy trốn với không mục đích và không biết đến ngày mai. Và rồi ma túy và tình dục cũng những cơn say “hết mình” không giúp cô tốt đẹp hơn, mà ngược lại.

Tuổi trẻ và phá cách, đó là những gì ngắn gọn và tốt đẹp nhất để nói về Monica. Đáng khen là những quyết định táo báo của cô, và đáng trách cũng là những quyết định ấy.

Sẽ không bàn nhiều về cô gái này ở bài review này nữa, tuy nhiên độc giả có thể tự nhìn lại mình khi đọc tới những vấn đề mà cô gái mạnh mẽ này đã trải qua, chiêm nghiệm nó và tự ra nhận xét cho riêng mình.


Anh chàng da đen Cato và nạn phân biệt chủng tộc

Bạn đọc quan tâm tới nạn phân biệt chủng tộc có lẽ sẽ rất thích thú khi được nghe tác giả tỉ mỉ miêu tả về anh chàng da đen Cato và hành trình đến với thành phố Mặt Trời.

“Về người Mỹ da đen, môt câu đơn giản tóm tắt lịch sử xác đáng của đất nước chúng ta: được thuê cuối cùng, bị đuổi đầu tiên”

“Suốt 364 ngày trong năm, người da đen kiên nhẫn chịu đựng một nỗi thống khổ hẳn sẽ đẩy người da trắng vào thế phải tự vẫn. Ngày thứ 365, anh ta trốn thoát bằng cách ở nhà uống say bí tỉ, và rồi nhân viên xã hội báo cáo, “Anh ta không có khả năng làm việc, như thường lệ”


Khắc họa sự bất công đối với người da đen, tác giả miêu tả những vụ bạo loạn, sự kém hiểu biết của họ đồng thời không quên nói về những kỳ thị, ác cảm của những người da trắng đối với họ. Hơn thế, nạn phân biệt chủng tộc còn nặng nề hơn qua sự dối trá và ngớ ngẩn đến từ báo chí và truyền thông!

Với những kẻ kém hiểu biết chỉ nhận thông tin một chiều, họ sẽ cho rằng Cato là một kẻ khủng bố, theo đạo Hồi và là một tay súng nguy hiểm. Còn đối với nhân vật tôi trong truyện, Cato chỉ đơn giản là một anh chàng da đen dễ mến và thức thời. Nhưng dù sao thì anh cũng là một kẻ chạy trốn vì một cuộc đấu tranh cho sự công bằng của chủng tộc.


Yigal, một anh chàng Do Thái với trí tuệ phi thường và một trái tim nóng ấm

Đọc phần miêu tả về Yigal, người đọc hoàn toàn có thể hình dung được nền tảng giáo dục của gia đình và môi trường sống ảnh hưởng như thế nào tới tương lai con trẻ.

Yigal là một trường hợp đặc biệt như thế. Anh mang cả hai quốc tịch Mỹ và Irasel, và khi tổ quốc Do Thái cần, anh sẵn sàng vứt bỏ tương lai tốt đẹp ở Hoa Kỳ để sát cánh với những người lính bên chiếc xe tăng, bất chấp sự phản đối của gia đình. Nhưng sau chuyện đó, lại khiến anh đau đầu cho tương lai khi phân vân không biết nên làm gì tiếp theo, trở về Mỹ làm một sinh viên ưu tú ở đại học Michigan theo ý ông ngoại, hay sang Anh theo ý ông nội để trở thành nhà khoa học chuyên tâm nghiên cứu tại Cambridge. Hay là về Israel, ghi tên vào trường Technion ở Haifa.

Bế tắc trong việc lựa chọn tổ quốc cho riêng mình, là Irasel hay là Mỹ, hay là công dân Anh, và thế là Yigal chạy đến Tây Ban Nha du lịch, và cuối cùng theo chân các bạn trẻ khác làm một vòng quanh thế giới.

Tuổi trẻ tươi đẹp, sống cháy hết mình, chính là những hình ảnh nói về Yigal

Thông qua câu chuyện về Yigal, tác giả khắc họa tài tình về sự bất ổn, chiến tranh tại Quốc gia khởi nghiệp Irasel với trận chiến 6 ngày trong đó Yigal đóng vai trò chủ chốt, đồng thời James Michener cũng đã lý giải vì sao đất nước Do Thái này vẫn là điểm đến đáng mơ ước của nhiều người mặc dù tình trạng chiến tranh luôn tiếp diễn.

Thêm một lần nữa, kho kiến thức đồ sộ của tác giả về chính trị, khoa học, địa chất được khai thác tối đa. Và cuốn bách khoa thư này vẫn chưa có điểm dừng.


Gretchen, cô gái của Niềm hy vọng Mỹ

Nếu như Britta ứng xử tuyệt vời sau khi bị lạm dụng tình dục, thì Gretchen mãi mãi bị ám ảnh bởi một vụ tương tự, dù cô gái này thậm chí còn mạnh mẽ hơn cô gái Na Uy khi dám đứng lên đấu tranh chính trị cho một nền dân chủ Mỹ.

Đánh đàn ghi ta điêu luyện, hát hay và sẵn sàng chết vì McCarthy, vay 200$ để làm phí đào thoát cho một anh chàng trốn quân dịch, Gretchen tìm mọi cách làm có thể để tin vào một nước Mỹ tốt đẹp hơn. Gọi Gretchen là niềm hy vong Mỹ thật không sai chút nào.

Viết về Gretchen, tác giả lồng vào đó những khúc ballad ngọt ngào của các bản nhạc Child 305 khúc được cô gái nhỏ nhắn này thể hiện, trước khi miêu tả kĩ càng về cơn ác mộng đã biến Grettchen trở nên hoang mang: bị lạm dụng tình dục bởi cảnh sát, trong khi cô đấu tranh vì hòa bình cho đất nước!

Lãng mạn với ballad hoa hồng & vỡ mộng vì tiếng súng! Miêu tả về Gretchen thế có lẽ là đủ.

Nhưng không, cô gái này còn làm được nhiều điều tích cực hơn thế. Là điểm sáng hiếm hoi mà 5 người còn lại không làm được, dù xuất phát điểm của cô có thể nói là kém hơn so với phần còn lại. Những ý tưởng tươi mới của cô trong tập 2 sẽ là khúc giáng ca ngọt ngào mà tác giả hiếm hoi thể hiện cho bạn đọc vì một ngày mai tươi sáng.

Hết tập 1, đã xong màn dạo đầu, và hành trình của các bạn trẻ cũng mới chỉ ở bước đầu tiên!


Có vẻ như tác giả rất giỏi khi miêu tả một thế giới đầy biến động với chiến tranh vùng Trung Đông, chiến tranh Việt Nam, nạn phân biệt chủng tộc, … Tuy nhiên, sống trong một hiện thực tàn khốc như thế, những thanh niên vỡ mộng về một cuộc sống màu hồng chỉ còn biết cách chạy trốn. Trong suốt tập 1, chàng trai trẻ Joe chỉ biết trốn quân dịch, không thèm đấu tranh cho nó, Britta thì không có ý định trở về nhà để làm một cái gì đó tươi sáng hơn cho nơi cô được sinh ra, Monica chết sau hành trình phiêu bạt, các đại diện khác của những cuộc giải phóng dân tộc ở châu Phi cũng…chẳng làm gì khá hơn.

Các bạn trẻ phản kháng với xã hội rất tốt, nhưng chưa góp phần xây dựng nó trở nên tốt đẹp hơn. Và rõ ràng là tác giả cũng không có giải đáp cho những bài toán của hiện thực đương thời, một thế giới bất ổn và nhiều nguy cơ bùng nổ


[Tập 2] Đêm phương nam ở Tây Ban Nha, Bò tót & Rừng rậm châu Phi đầy ám ảnh


Thay cho lời kết: Đôi điều về tác giả & tác phẩm

James Albert Michener là nhà văn nổi tiếng người Mỹ với trên 40 đầu sách. Ông từng học và giảng dạy ở nhiều trường đại học, nhận bằng thạc sỹ văn chương năm 1937 và có hơn 30 học vị tiến sĩ danh dự về nhân văn, luật, thần học & khoa học.

Các tác phẩm của Michener bán được gần 80 triệu bản trên khắp thế giới, nhiều lần được chuyển thể thành phim và nhận rất nhiều giải thưởng văn học uy tín (Giải Pulitzer, giải Franklin, Huy chương Vàng của Viện nghiên cứu Tây Ban Nha, giải Einstein của Einstein Medical College…)

Michener đã tặng hơn 100 triệu đô la tiền nhuận bút cho một số trường đại học, thư viện, viện bảo tàng, chương trình nghiên cứu…

Bảo tàng Nghệ thuật ở Doylestown, Pénsylvania, quê ông mang tên tên Michener.

Sáu người đi khắp thế gian (tên gốc là The Drifters) được xuất bản năm 1971 và suốt sáu tháng liền nằm trong danh sách những tác phẩm bán chạy nhất New York.



Lối Sống Tối Giản Của Người Nhật

Phanblogs Trong cuốn sách này, “lối sống tối giản” được hiểu là: 

1) giới hạn tối thiểu cần thiết cho bản thân và 

2) vứt bỏ tất cả mọi thứ trừ những thứ quan trọng.

 Và những người sống theo lối sống đó gọi là người sống tối giản.

Đồ đạc ít, hạnh phúc nhiều. Chính vì vậy, chúng ta không còn cần đồ đạc nữa.

 Cuốn sách này muốn gửi tới bạn sự tuyệt vời của cuộc sống với ít đồ đạc trong nhà.

 Có thể bạn sẽ thấy những điều tôi muốn nói đều đi ngược lại quan niệm hạnh phúc ngày nay như: có càng nhiều ta càng hạnh phúc.

 Vì ta không biết tương lai sẽ thay đổi thế nào, nên hãy cố gắng tích trữ càng nhiều thứ càng tốt.

 Khi mua bất cứ món đồ nào, bạn đều có thể thanh toán bằng tiền, nên dần dần, trong cuộc sống chúng ta đang nhận định người khác bằng số tiền mà họ có.

 “Chỉ cần có tiền là có thể mua được mọi thứ… Vậy chúng ta có mua được tình cảm của con người như những món hàng hóa không? Nếu đến cả tình cảm mà cũng mua được thì có lẽ việc mua hạnh phúc cũng chẳng khó gì.

 Vì vậy, hãy kiếm thật nhiều tiền thôi.

Chẳng có ai từ khi sinh ra đã có tài sản, đồ đạc gì trong tay. Vậy nên bất cứ ai khi mới chào đời đều là những người sống tối giản. Cứ mỗi lần bạn sở hữu trong tay những đồ dùng hơn mức cần thiết là một lần bạn lấy mất tự do của chính mình. Giá trị bản thân chúng ta không đo bằng những đồ dùng mà chúng ta sở hữu. Những đồ dùng này chỉ cho chúng ta một chút cảm giác hạnh phúc nhất thời mà thôi. Mang theo những đồ dùng hơn mức cần thiết sẽ lấy hết thời gian, năng lượng của bạn. Khi nhận ra được điều đó, tức là bạn đã bắt đầu trở thành một người sống tối giản.

Những người sống tối giản luôn cảm thấy vui vẻ, mới lạ mỗi ngày. Cái cảm giác này, tôi nghĩ bất cứ ai cũng có thể cảm nhận được, dù bạn có phải là một người sống tối giản hay không, bởi bất cứ ai.

Lối sống tối giản của người Nhật gồm có năm chương, trong đó, chương một, tác giả sẽ giới thiệu cho bạn lối sống tối giản là gì, đưa ra định nghĩa của anh về nó. Sau đó anh sẽ đưa ra lý do vì sao mình lại theo lối sống này sau nhiều năm sống trong căn phòng của bản thân.

Chương hai tác giả sẽ đề cập đến tại sao sau ngần ấy năm, đồ đạc trong nhà lại chất nhiều đến thế. Những đồ đạc được tích tụ lại do thói quen hay nhu cầu của con người này mang ý nghĩa gì?

Chương ba là những bí quyết để cắt giảm đồ đạc trong nhà. Tác giả sẽ đưa ra cho bạn những quy tắc cụ thể, những phương pháp để có thể giảm bớt đồ đạc trong nhà. Thêm vào đó cũng sẽ giới thiệu cho bạn danh sách bổ sung 15 điều cho những người muốn tối giản hơn nữa cùng với toa thuốc cho “căn bệnh muốn vứt bỏ”.

Chương bốn, những thay đổi của chính tác giả sau khi dọn hết đồ đạc trong nhà. Kèm theo đó, anh còn phân tích và khảo sát thêm về các kết quả nghiên cứu tâm lý học.

Cuối cùng chương năm, tiếp nối ý từ chương bốn, tác giả sẽ giải thích tại sao những thay đổi của bản thân lại dẫn đến “hạnh phúc”.

Để hiểu sâu hơn về lối sống tối giản, bạn nên đọc hết từ chương một đến chương bốn. Tuy nhiên, bạn cũng có thể đọc riêng từng chương. Thậm chí chỉ cần đọc chương ba cũng có thể giúp bạn cắt giảm được đồ đạc của mình.

Trong cuốn sách này, “lối sống tối giản” được hiểu là:
1) giới hạn tối thiểu cần thiết cho bản thân và
2) vứt bỏ tất cả mọi thứ trừ những thứ quan trọng.

Và những người sống theo lối sống đó gọi là người sống tối giản.

Lối Sống Tối Giản Của Người Nhật .txt
Lối Sống Tối Giản Của Người Nhật .pdf
Lối Sống Tối Giản Của Người Nhật .doc



Phía Nam biên giới Phía Tây mặt trời Haruki Murakami

Phanblogs Phía Nam biên giới Phía Tây mặt trời Haruki Murakami

Phan: Có những người không thoát ra khỏi quá khứ và họ bị nó đóng hộp nhân danh cảm xúc.

- Em biết không, hồi còn nhỏ, anh thường xuyên tự hỏi ở Phía Nam biên giới có thể có gì, tôi nói.

- Em cũng thế. Lớn lên, khi đã hiểu được lời bài hát bằng tiếng Anh, em rất thất vọng vì đó chỉ là một bài hát về nước Mêxicô. Em nghĩ ở Phía Nam biên giới phải có cái gì đó tuyệt diệu hơn thế nhiều.

- Chẳng hạn như cái gì?

Shimamoto-san vuốt tóc ra phía sau và dùng tay đỡ nhẹ lấy.

- Em không biết. Cái gì đó rất đẹp, rất lớn, rất dịu dàng.

- Cái gì đó rất đẹp, rất lớn, rất dịu dàng? Cái gì đó ăn được à?

Nàng mỉm cười. Tôi nhìn thấy hàng răng trắng giữa đôi môi nàng.

- Không, em không nghĩ thế, có thể là không phải đâu.

- Cái gì đó có thể chạm vào?

- Phải, rất có thể là cái gì đó mà người ta có thể chạm vào.

- Có quá nhiều "có thể" trong những câu nói của em.

- Chúng ta sống trong một thế giới có rất nhiều "có thể".



- Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời, nàng nói.

- Phía Tây mặt trời là thế nào?

- Đó là một nơi có thật. Anh đã bao giờ nghe nói đến thứ bệnh tên là Hysteria siberiana chưa?

- Chưa.

- Cách đây đã lâu em đọc được về nó ở đâu đó, chắc là từ hồi em còn học cấp hai. Em không còn biết ở trong cuốn sách nào nữa, chỉ nhớ chắc chắn đó là một thứ bệnh mà nông dân Xibêri hay mắc phải. Anh cứ tưởng tượng mình là một người nông dân Xibêri và anh sống một mình trên thảo nguyên. Và ngày nào, ngày nào anh cũng làm ruộng. Hoang mạc ngút tầm mắt. Không có gì, hoàn toàn không có gì ở xung quanh anh. Phía Bắc, đường chân trời, phía Nam, đường chân trời, phía Đông, đường chân trời, và phía Tây, vẫn là đường chân trời. Chỉ thế thôi. Mỗi sáng, khi mặt trời hiện ra phía trên đường chân trời phía Đông, anh ra đồng làm việc,và khi mặt trời lên đến đỉnh, anh ngừng tay để ăn trưa. Khi mặt trời biến mất sau đường chân trời phía Tây, anh về nhà đi ngủ.

- Anh nghĩ cuộc đời đó rất khác với cuộc đời của một ông chủ câu lạc bộ nhạc jazz ở khu Aoyama.

- Cái đó thì hẳn rồi, Shimamoto-san mỉm cười nói, rồi nàng hơi nghiêng đầu. Quả thật là rất khác. Và, ngày nào cũng như thế, cả năm.

- Nhưng vào mùa đông thì không thể làm đất ở Xibêri được.

- Tất nhiên rồi, mùa đông thì anh nghỉ ngơi. Mùa đông anh làm việc trong nhà; rồi, khi mùa xuân tới, anh lại ra đồng làm. Anh sống một cuộc sống như thế đấy. Anh cứ tưởng tượng anh là một nông dân ở Xibêri đi.

- Xong rồi, tôi nói.

- Một ngày đẹp trời, trong sâu thẳm con người anh có cái gì đó chết đi.

- Chết? Cái gì chết?

Shimamoto-san lắc đầu.

- Em không biết. Cái gì đó. Cái gì đó gãy đi trong người anh và chết, khi mà suốt đời anh cứ nhìn mặt trời hiện ra phía trên đường chân trời phía Đông, hoàn thành cái vòng cung di chuyển của nó và đi ngủ sau đường chân trời phía Tây. Khi đó, anh sẽ vứt cái cuốc xuống đất, và không nghĩ ngợi gì nữa, anh đi thẳng về phía Tây. Về phía Tây mặt trời. Và anh cứ đi như thế hàng ngày trời không ăn không uống, như thể bị bỏ bùa, và cuối cùng anh gục xuống đất và chết. Chứng hysterie Xibêri là như thế đó.

Tôi tưởng tượng ra cảnh người nông dân Xibêri ngã gục xuống đất và chết.

- Nhưng ở phía Tây mặt trời có gì? tôi hỏi.

- Cái đó thì em chịu. Có thể là không có gì. Có thể là có cái gì đó. Dù sao thì cũng rất khác với phía Nam biên giới.


Khi cuối cùng ngẩng được đầu lên, tôi nhìn thấy Izumi đang ở trước mặt. Ngồi ở băng ghế sau một chiếc taxi dừng lại đèn đỏ, ngay trước mặt tôi, cô nhìn tôi chăm chăm qua cửa kính. Mặt cô chỉ cách mặt tôi một mét. Dĩ nhiên là cô không còn ở tuổi mười bảy nữa. Nhưng tôi nhận ra cô ngay. Không thể là người nào khác được. Ở đó, ngay trước mắt tôi, là người phụ nữ tôi từng ôm trong vòng tay hai mươi năm trước, người con gái đầu tiên mà tôi hôn, người trong một buổi chiều mùa thu đẹp trời, năm mười bảy tuổi, đã để tôi cởi bỏ quần áo, thậm chí còn làm mất một cái nịt tất. Hai mươi năm làm thay đổi một con người, cái đó thì chắc rồi, nhưng tôi nhận ra được khuôn mặt này giữa cả nghìn người.

“Cô ấy làm bọn trẻ con sợ”, người bạn học cũ từng nói với tôi. Ngay lúc đó, tôi còn chưa hiểu anh định nói gì. Tôi không thể tiêu hóa nổi những gì anh định giải thích với tôi. Giờ đây thì tôi hoàn toàn hiểu. Khuôn mặt Izumi không có chút biểu cảm nào. Hoặc đúng hơn tôi phải nói rằng: Mọi hình thức biểu cảm đã trốn chạy khỏi khuôn mặt cô. Giống như là một căn phòng không đồ đạc. Trên khuôn mặt đó, tất cả đều chết và lặng tờ như đáy đại dương. Và cô nhìn tôi chăm chú, với cái vẻ hoàn toàn vô cảm đó. Ít nhất thì tôi cũng nghĩ rằng cô nhìn tôi. Đôi mắt cô quay về phía tôi; nhưng chúng không hiểu gì hết, không truyền đạt một thông điệp nào. Nếu cô định chuyển cho tôi một điều gì đó, thì hẳn đó chỉ có thể là một sự trống rỗng không đáy.

Tôi đứng lặng tại đó. Tôi đã quên mất cách sử dụng lời nói. Tôi thở thật chậm, phải cố gắng lắm tôi mới đứng vững được. Lúc đó, tôi đã mất ý thức theo nghĩa đen về sự tồn tại của chính mình. Trong một lúc, thậm chí tôi còn không biết mình là ai. Những đường nét con người tôi bị xóa đi, tôi cảm thấy mình trở thành một thức chất lỏng chảy nhỏ giọt. Một cách máy móc, không có thời gian để suy nghĩ đến một ý định cụ thể, tôi chìa tay về phía Izumi, chạm vào cửa kính xe, và lấy đầu ngón tay vuốt ve. Tôi không biết cử chỉ đó có nghĩa gì. Vài người bộ hành dừng lại nhìn tôi vẻ bối rối. Nhưng tôi phải làm cử chỉ đó. Dọc theo cửa kính, tôi tiếp tục vuốt ve khuôn mặt không có mặt của Izumi. Cô không có cử động nào, thậm chí không chớp mắt. Cô đã chết rồi? Không, không thể. Cô vẫn đang sống, không một cử chỉ, mi mắt bất động. Cô vẫn sống, trong cái thế giới này, đằng sau cửa kính xe. Và đôi môi câm lặng của cô nói với tôi về một sự trống rỗng không đáy.

Phía Nam biên giới Phía Tây mặt trời Haruki Murakami.txt
Phía Nam biên giới Phía Tây mặt trời Haruki Murakami.pdf
Phía Nam biên giới Phía Tây mặt trời Haruki Murakami.doc


tuyển tập tủ sách hạt giống tâm hồn

Phanblogs tuyển tập tủ sách hạt giống tâm hồn Hạt Giống Tâm Hồn - Tuyển Chọn Những Câu Chuyện Hay Nhất
Trong cuộc sống chúng ta ai cũng có một ước mơ cho một ngày mai thật đẹp, dù bình dị hay phi thường - đó có thể là ước mơ của một cậu bé mồ côi mong có ngày được chăm sóc trong vòng tay người mẹ, đó là ước mơ rất đỗi giản dị của một chú bé tật nguyền được bước đi bình thường như bao người khác, ước mơ tìm được việc làm mà mình yêu thích của một chàng trai thất nghiệp, ước mơ tìm được một tình yêu đẹp, được sống yên vui hạnh phúc, hoặc có thể là những ước mơ chinh phục, vượt qua thử thách, vươn lên khẳng định mình và trở thành những gì mà mình từng ao ước. Những ước mơ đáng quý, đáng trân trọng đó luôn là niềm hy vọng, là nguồn động lực và niềm tin lớn nhất cho mỗi người để sống, để cảm nhận và hướng đến ngày mai.


Nhưng cuộc sống luôn tiềm ẩn những trở ngại, khó khăn, và thử thách bất ngờ - con đường đến những ước mơ ấy không hề bằng phẳng. Bao khó khăn, trở ngại và cả bất hạnh có thể xảy ra vào những lúc không mong chờ nhất như để thử thách lòng dũng cảm của con người. Đó có thể là những trở ngại nhỏ ta vấp phải vào một thời điểm nào đó trước khi tự đứng thẳng trên đôi chân của mình. Có thể nó như những đám mây đen kịt báo hiệu cơn dông, khiến ngay cả những tâm hồn dũng cảm nhất cũng phải tìm kiếm sự chở che. Cũng có thể do khách quan hay là những ngục tù mà chính ta tự đưa mình vào... khiến ta tổn thương, mất niềm tin, và có lúc tưởng như không còn điểm tựa hay nghị lực để vượt qua. Trước những khó khăn thử thách ấy, mỗi người sẽ tự chọn cho mình cách đón nhận, đối đầu để có một hướng đi riêng. Có người phó thác cho số phận, có người trốn chạy đi tìm nơi trú ấn, có người tự thay đối để thích nghi với hoàn cảnh mới, cũng có người chìm vào biển tự thương thân trách phận để rồi ngã gục trong cơn dông tố cuộc đời...


Thế nhưng, bất kể là ai, tự đáy lòng của mỗi con người đều tồn tại một khát vọng mãnh liệt - đó là khát vọng sống và được luôn là chính mình. Chính khát vọng ấy đã khiến bao trái tim trăn trở, thao thức tìm cho mình một cách nghĩ, một sức mạnh tinh thần, một hướng đi để theo đuổi những hoài bão, ước mơ.


Cuộc sống chúng ta ra sao, luôn ngập tràn sợ hãi và oán hờn hay chấp nhận và vui sống đế vươn lên, tất cả tùy thuộc vào cách ta đối mặt với những khó khăn thử thách ta gặp phải trên con đường mình đi.


Hạt Giống Tâm Hồn - Tuyển Chọn Những Câu Chuyện Hay Nhất sẽ là người bạn đồng hành cùng độc giả vượt qua những khó khăn thử thách trong cuộc sống thường ngày như nỗi mất mát, nỗi đau tổn thương tinh thần, tình cảm, niềm tin, bệnh tật, những thăng trầm trên bước đường theo đuổi ước mơ của cuộc đời hay vươn lên cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Qua hơn 10 năm từ khi ra đời, Hạt Giống Tâm Hồn là một trong những bộ sách có giá trị được bạn đọc yêu thích nhất tại Việt Nam. Thực sự Hạt Giống Tâm Hồn đã làm thay đổi cuộc sống của rất nhiều người, truyền cảm hứng, niềm tin và giá trị sống đến cho nhiều bạn đọc Việt Nam.


Qua những sự kiện bất hạnh, những câu chuyện bình thường, những con người bình dị, các câu chuyện đều nhấn mạnh đến tinh thần vượt lên, chiến thắng chứ không phải những điều lạ thường. Bạn có thể bắt gặp câu chuyện của chính mình, của những người xung quanh hay của những người hoàn toàn xa lạ... để rồi suy ngẫm, chiêm nghiệm, khám phá và tìm thấy câu châm ngôn cuộc sống của mình!


Những câu chuyện này sẽ là động lực khuyến khích bạn đưa tay cho người khác cũng như mở rộng lòng với những ai cần chia sẻ nỗi đau. Quyển sách sẽ mang đến cho bạn thêm niềm lạc quan, niềm tin và tình yêu cuộc sống để thấy mỗi trở ngại, thử thách trong cuộc sống như một hòn đá cần có và bạn hoàn toàn có thể bước qua, để lại có thể mỉm cười và trân trọng những gì bạn đã và đang có.


Những trang sách này gửi đến bạn đọc như món quà tặng của tâm hồn. Các bạn sẽ nhận thấy nó như một nguồn tiếp thêm sức mạnh, niềm tin và lòng dũng cảm - như một lời nhắc nhở không ngừng rằng bạn luôn có đủ sức mạnh vượt qua tất cả để đạt được những ước mơ của mình cho dù cuộc sống có thế nào đi nữa.

tuyển tập tủ sách hạt giống tâm hồn.txt


tuyển tập tủ sách hạt giống tâm hồn.pdf


tuyển tập tủ sách hạt giống tâm hồn.doc



Kỳ diệu từ những điều giản dị... 14
Giá trị của thử thách. 17
Đến một ngày... 18
Tin tốt lành. 19
Không đề. 21
Cội rễ của sự trưởng thành. 22
Đừng bao giờ từ bỏ ước mơ.. 24
Mỗi ngày là một món quà. 27
Chắp cánh ước mơ.. 30
Những con đường mới 31
Tâm hồn và tình yêu của thiên nga. 34
Người chạy cuối cùng. 39
Lắng nghe những điều giản dị 41
Tình yêu tạo nên lẽ sống. 47
Những chiến binh tí hon. 49
Có công mài sắt... 54
Không đầu hàng số phận. 56
Mái nhà chở che. 61
Bước ngoặt cuộc đời 64
Đừng sợ đối mặt với nỗi sợ hãi 68
Tấm huy chương vàng. 74
Sức sống mãnh liệt 76
Đôi mắt biết nói 81
Tấm lòng cô giáo. 83
Đêm cuối cùng. 87
Quà sinh nhật 89
Bàn tay cô giáo. 91
Ước mơ bé bỏng. 93
Người phụ nữ nhân hậu. 96
Sự lựa chọn của mẹ. 99
Không việc gì phải lo. 103
Cuộc sống vẫn còn ý nghĩa. 105
Ý nghĩa của nụ cười 107
Không bao giờ quá muộn. 110
Lỗi lầm.. 112
Mãi mãi tuổi 17. 114
Nguồn động viên. 117
Giai điệu tuyệt vời 118
Vị ngọt tình yêu. 120
Chiếc bình vỡ.. 122
Bộ đồ của ba. 126
Khi bạn vội vã. 129
Bài học về cách chấp nhận. 132
Người chia sẻ với người khác nhiều nhất 133

HẠT GIỐNG TÂM HỒN 2. 134

Sẽ đến lúc... 135
Bí mật hạnh phúc. 136
Bạn để lại gì cho cuộc sống?. 138
Nhận biết chính mình. 140
Món quà của tình yêu. 141
Chấp nhận mạo hiểm.. 144
Bữa điểm tâm bằng hồ dán. 151
Những chiếc hộp. 154
Trở về mái ấm.. 155
Gã khổng lồ một mắt 158
Tiếng nói không lời 163
Mẹ và con gái 165
Sức mạnh của niềm tin. 167
Không bao giờ bỏ cuộc. 176
Hai anh em.. 180
Giấc mơ hão huyền. 181
Bài học từ một chuyến đi 186
Quà tặng dành cho trái tim tan vỡ.. 187
Niềm tin. 190
Bỏ qua oán hờn. 191
Mẹ và cuộc hành trình của bạn. 193
Hồ nước. 197
Tình yêu vô điều kiện. 198
Giá trị của lòng biết ơn. 203
Món quà cuối cùng. 206
Nhận thức. 209
Lời khen quý báu. 210
Tiếng đàn dương cầm.. 212
Hãy dám tưởng tượng. 214
Vượt qua bức tường câm lặng. 217
Cách nhìn. 220
Bạn bè và người quen. 222
Bạn bè phải thế chứ! 224
Cái hũ. 228
Ngôi nhà có một nghìn chiếc gương. 231
Chạm đáy. 232
Đôi tay của mẹ. 235
Vết sẹo. 239
Cha tôi 240
Dời núi 243
Khung cửa lấp lánh. 246
Chuyện xây cầu Brooklyn. 248
Nỗi đau sẽ đi qua và cái đẹp ở lại 249
Chiếc giày đánh rơi của Gandhi 250
Lá thư người mẹ. 251
Viên ngọc người mẹ. 256

HẠT GIỐNG TÂM HỒN 3. 257

Kỳ diệu từ những điều giản dị... 257
Đấu trường và cuộc sống. 260
Phút tĩnh lặng. 261
Ý nghĩa công việc. 263
Con đường phía trước. 264
Số phận hay bản lĩnh. 266
Phép màu giá bao nhiêu?. 267
Nhặt vài cuốn sách - cứu một đời người 269
Bài học từ trò chơi ghép hình. 271
Điều gì đến sẽ đến. 272
Câu chuyện của hai hạt mầm.. 274
Viên đá quan trọng. 275
Lời nói và những vết đinh. 277
Tốc độ, góc nhìn và tổn thương. 278
Bức thông điệp không lời 280
Phần quan trọng nhất 281
Hãy bước lên. 283
Bác cũng là cướp biển! 284
Lá cuối năm.. 286
Hy vọng. 288
Bài học từ người thấy dạy võ. 289
Kho tàng trong túi giấy. 291
Điều bình dị 293
Câu chuyện ven đường. 294
Khó khăn thử thách để lại gì?. 296
Hãy sống với ước mơ.. 297
Thời khắc đẹp nhất của cuộc đời 298
Ai sẽ là người công nhận ta?. 300
Liều thuốc cho sự đau khổ. 302
Đám tang Ngài "Tôi không thể" 303
Những vòng tròn nước. 306
Món quà vàng. 307
Tiết mục đọc thơ của Patty. 309
Bình yên trong bão tố. 311
Sức mạnh và dũng khí 313
Giá trị của sự quan tâm.. 315
Mảnh gương vỡ.. 317
Cây giữ phiền muộn. 318
Bức thư gửi cuộc sống. 320
Có thể cuộc sống đã công bằng. 322
Chân dung của bạn. 323
Người yêu quý nhất 325
Dharma. 327
Điều kỳ diệu của tình yêu. 330
Sự chia sẻ chân thành. 333
Làm được điều gì đó. 334
Đóa hoa Sơn Chi 337
Giá trị 338
Nếu Ngày Mai chẳng bao giờ đến nữa. 339
Bạn đã dành cho gia đình những gì?. 341
Lời nhắn gửi muộn màng. 345
Bông hoa đẹp nhất 347
Bán cho con một giờ của ba! 349
Ước mơ bình thường. 350
Hãy cố gắng khi còn có thể. 351

HẠT GIỐNG TÂM HỒN 4. 355

Lời chúc bình dị 355
Đôi khi... 356
Đâu là hạnh phúc bạn đang có. 357
Cái giá của sự thông thái 359
Cảm nhận và niêm tin. 360
Cái giá của sự trung thực. 361
Khi gió đổi hướng. 362
Trở thành một người như thế. 363
Cái hố trên đường. 364
Một ly sữa. 365
Ô cửa sổ bệnh viện. 366
Hộp kem.. 368
Hãy đặt ly xuống. 369
Lỗi lầm và sự biết ơn. 370
Chẳng phải tất cả chúng ta đều thê sao?. 371
Ba mươi năm cho một giấc mơ! 372
Mẹ đang nghe con nói đây! 375
Chú mèo hạnh phúc. 379
Điểm sáng sau thất bại 380
Đổng cảm.. 381
Nỗi đau. 383
Cái giá của ước mơ.. 385
Liều thuốc Hy Vọng. 387
Hãy là chính mình. 388
Con chim ưng của Thành Cát Tư Hãn. 390
Điểm tựa. 392
Sự nhầm lẫn ý nghĩa. 394
Hạnh phúc bình dị 395
Nhờ vậy mà ta trưởng thành. 397
Đừng bao giờ tuyệt vọng. 398
Chuyện về một cành nho. 399
Suy nghĩ, niềm tin, ước mơ và bản lĩnh. 400
Câu chuyện về những quả táo sâu. 401
Nguồn sáng. 402
Điều kỳ diệu. 404
Những bông hồng cho Hoa Hồng. 407
7 trắng, 4 đỏ, 2 xanh. 409
Xem xiếc cùng cha. 411
Cái bình nứt 413
Vẫn ngủ được khi trời giông bão. 414
Trong cơn nóng giận. 415
Thêm một ngày con ở bên mọi người... 417
Cứu mẹ trong đêm.. 419
Chiếc phong bì nhân ái 421
Cây nhân ái 423
Hoa hồng tặng Mẹ ngày Giáng Sinh. 425
Tìm lại giấc mơ.. 428
Có phải cháu sẽ chết ngay bây giờ.. 430
Món quà. 431
Giá trị của thời gian. 433
Điều nên làm.. 434
Báu vật tiềm ẩn. 435
Câu chuyện tình yêu. 437
Có thể. 439
Không bao giờ là quá muộn! 440
Bác nông dân và ngài quý tộc. 445
Tiếng đàn cho mẹ. 446
Chiến thắng thứ hai 449
Một chút can đảm vượt đường xa. 450
Trên cả nỗi đau. 452

HẠT GIỐNG TÂM HỒN 5. 455

Lời giới thiệu. 455
Tôi mơ thấy Shawna. 456
Cảm xúc gọi yêu thương. 461
Nét đẹp thật sự.. 463
Nếu các bà nội, bà ngoại lãnh đạo thế giới 467
Bằng cấp quan trọng cỡ nào?. 470
Giáng Sinh vẫn ở đó. 474
Tấm thiệp mừng. 477
Một Dawn mới của tôi 480
Giữ nó lại, nêu em có thể... 483
Dì Honey của tôi 486
Tình yêu của một con vịt 490
Cái bàn gỗ màu đỏ. 494
Ngôi nhà của cha mẹ tôi 497
Công việc thật sự.. 500
Tôi sẽ không khóc. 501
Tin nhắn tình yêu. 505
m nhạc trong đời mẹ tôi 506
Chúng ta nói chuyện nhé?. 510
Khoác lấy cánh tay tôi 513
Đó là tình yêu. 515
Đi tìm một người bạn đời hoàn hảo. 519
Không cần xem chữ ký. 522
Người bạn tâm giao. 524
Chuyến bay 603. 528
Phòng toát mồ hôi 531
Cô cần gì không?. 533
Thiên thần tuần tra. 537
Sức mạnh của trí tưởng tượng. 540

HẠT GIỐNG TÂM HỒN 6. 542

Quà tặng từ trái tim.. 542
Bức tranh của Joe. 545
Món quà quý giá của bà Goldberg. 547
Chuyện của Ann. 550
Không bao giờ quá muộn. 554
Buổi phỏng vấn. 557
Công nghệ cao. 559
Thiên thần thủy tinh bé nhỏ. 561
Người có ước mơ.. 564
Chèo ngược dòng. 566
Một ngày nào đó. 568
Yêu hay không yêu?. 571
Hết lòng với Nealy. 573
Không lãng phí thì không túng thiếu. 576
Năm mươi tuyệt vời 579
Bất ngờ trong ngày cưới 581
Bàn tay dịu dàng, trái tim nồng ấm.. 583
Con chó Lucy. 585
Tôi kết hôn với một triệu phú. 590
Kẻ nghiện xưng tội 592
Quảng cáo cần người 594
Kẻ mộng du. 598
Bữa ăn trưa văn phòng. 601
Lời cầu nguyện thầm.. 604
Trẻ mãi không già. 606
Tạm biệt con trai của tôi 610
Trận chiến thắng lợi 611
Bước tới bằng niềm tin. 615
Quả đạn đại bác. 618
Nếu họ khác đi... 622
Chỉ cần bạn có mặt ở đó. 625
Một thế giới tuyệt vời 628

HẠT GIỐNG TÂM HỒN 7. 631

Kỳ diệu từ những điều giản dị... 631
Cuộc Sống Tươi đẹp. 633
Gieo và gặt 636
Vang vọng của đất trời 639
Nụ hôn tạm biệt 640
Quyền được khóc. 643
Những điều quan trọng của cuộc sống. 646
Giá trị 648
Đừng chờ đợi 650
Đốm lửa sẻ chia. 652
Hành động và ý định. 654
Khiếm khuyết hay lợi thế?. 655
Người mẹ vĩ đại 658
Tình yêu diệu kỳ. 660
Tuổi tác và sự già cỗi 662
Trái tim còn mãi trong đời 663
Khi tình yêu hiện diện. 667
Những đồng xu may mắn. 668
Chú mèo không có miệng. 672
Người làm công kỳ lạ. 674
Thành công và Thất bại 676
Chìa khóa của những điều kỳ diệu. 678
Cậu bé chờ thư.. 679
Sức mạnh của niềm tin. 684
Cảm ơn người đàn ông lạ mặt 686
Gắng lên nào, Kelly! 691
Thiên thần. 695
Ngụ ngôn dành cho những người mẹ. 696
Châm ngôn cuộc sống. 699
Khúc biến tấu. 700
Chuyện nhà rùa. 703
Cứu hộ trên biển. 704
Điều kỳ diệu của đôi bàn tay. 706
Ước mơ.. 707
Chân lý cuộc đời 709
Sức mạnh của lời nói 713
Hai mặt của sự hy sinh. 714
Nếu một lần nữa sống lại cuộc đời mình... 716
Niềm tin. 717
Ngày đẹp nhất trong đời 721

HẠT GIỐNG TÂM HỒN 8. 724

Kỳ diệu từ những điều giản dị... 724
Câu chuyện về cuốn sách và giỏ đựng than. 727
Quà của Annie. 728
Điều này có giúp ích mẹ không?. 733
Có một Johnny khác. 735
Hàn gắn một trái tim vỡ.. 737
Tuyên ngôn của cái tôi 740
Cái nút áo. 742
Hãy cho đi 746
Vượt lên chính mình. 748
Giá trị của 20 đô-la. 751
Những dấu chấm câu. 753
Đừng thay đổi thế giới 754
Thiếu nữ cài hoa. 755
Nếu có lòng. 759
Ba người thầy vĩ đại 762
Bức chân dung. 764
Nếu bạn vẫn có thể. 765
Đôi mắt của mẹ. 767
Thiên thần can đảm.. 771
Những bài học từ trẻ thơ.. 775
Tình yêu diệu kỳ. 776
Sinh ra từ trái tim.. 780
Tình yêu vô điêu kiện. 782
Hãy nắm lấy bàn tay! 784
Phép màu của sự lắng nghe. 785
Lời hứa. 789
Cho và nhận. 790
Lòng tin. 792
Cố gắng thêm chút nữa! 793
Tiến về phía trước. 795
Đừng bao giờ.. 798
Sắc màu của cuộc sống. 799
Lời yêu thương. 801
Sắc màu tình bạn. 803
Lá thư cho đời sau. 806
Bàn tay cha. 807
Thành công. 809
Vai kịch cuối cùng. 810
Món quà tạm biệt 812

HẠT GIỐNG TÂM HỒN 9. 815

Lời giới thiệu. 816
Lễ vật thách cưới 817
Đảo ngỗng. 823
Cuộc đua cuối cùng của John Baker 825
Sứ mệnh của Antonia. 833
Giữa những con sóng. 837
Nghệ sĩ đàn cello ở Serajevo. 839
Tiếng nói của riêng mình. 843
Vị ân nhân trên chuyến tàu Pittsburgh. 844
Quy luật của lòng nhân ái 849
Tình yêu của một người anh. 851
Niềm mong ước. 859
Cậu bé không thể đọc. 860
Tình yêu trở lại 867
Tôi sẽ làm được. 869
Buổi lễ tốt nghiệp của Maya. 877
Tạo ra bước ngoặt cho chính mình. 884
Ánh sáng trong địa ngục. 886
Lắng nghe. 893
Quan điểm khác biệt 896
Đọc trong yêu thương. 900

HẠT GIỐNG TÂM HỒN 10. 909

Lời giới thiệu. 910
Mẻ cá để đời 911
Cô bé trong trận bão tuyết 914
Thiên đường trên mặt đất 921
Mike, tôi và chiếc bánh. 925
Sức mạnh của sự tập trung. 930
Cuộc chiến giữa người mẹ và chất kích thích. 931
Sự giúp đỡ của một người bạn. 939
Abe Lincoln và khoản tiền lớn đầu tiên trong đời 945
Sức mạnh của một bức thư cảm ơn. 952
Trên chiến tuyến. 953
Gia tài của ông Ditto. 957
Tìm lại các giác quan. 962
Ước mơ vươn tới một ngôi sao. 966
Những chiếc xe miễn phí 977
Vùng đất mặt trời dát vàng. 980
Người từ chối một triệu đô la. 983
Người thầy, người cha của nhà vô địch. 985
Một thiên tài trong lịch sử.. 993
Kẻ chạy trốn. 998
Phong cách của riêng tôi 1002
Vấn đề chính là thời gian. 1005

HẠT GIỐNG TÂM HỒN 11. 1008

Lời giới thiệu. 1008
Bài học trong giây lát 1010
Thông điệp từ vườn cây thích. 1016
Đối thủ đáng gờm.. 1020
Liệu pháp tiếng cười 1028
Lời khuyên của Gandhi 1033
Niềm hạnh phúc nhỏ nhoi 1038
Từ bóng tối ra ánh sáng. 1040
Tác giả của trường ca Messiah. 1050
Hai từ nên tránh và hai từ nên nhớ.. 1058
"Vâng, tôi có thể" 1065
Người quản lý không có tài viết lách. 1066
Con đường đến thành công. 1068
Bài học từ người Eskimo. 1070
Nếu tôi được sống thêm lần nữa. 1073
Hành trình trên xe buýt 1075
Lời khuyên quý giá nhất 1082
Đánh đổi 1088
Câu chuyện giáng sinh. 1093
Nghệ thuật quản lý khách sạn. 1099
Người lính không quen. 1104




Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái SERGE MILLER

Phanblogs Một danh sách người Do-Thái Âu châu phải bị tận diệt đã được thiết lập và con số lên đến 11 triệu người, trong số có 330.000 Do-Thái Anh, 4.000 Do-Thái Ái Nhĩ Lan, 18.000 Do-Thái Thụy Sĩ và 6.000 Do-Thái Tây Ban Nha.

Rõ ràng là Hitler và tập đoàn đã tự coi mình là chúa tể của toàn thể quả địa cầu, từ Luân-đôn đến Paletinc, từ Madrid đến Mạc-tư-khoa.

Tuy nhiên, Himmler và đồng bọn phải thừa nhận ngay lẽ đương nhiên: là ngay ở thế kỷ thứ XX, càng cần phải có thì giờ và phương tiện vật chất để tàn sát hàng chục triệu con người.

Các sự lấy mót lại quần áo, giầy, nhẫn vàng, mắt kiếng và cả đến tóc đàn bà dùng để làm đệm, thảm cũng đặt thành một vấn đề không kém quan trọng.

Các con số trung bình như sau:

1. Tại tập trung Belzek, nằm trên đường Lablin đi Iwou: tối đa mỗi ngày giết được 15.000 người.

2. Trại tập trung Treblin Ka, cách Varsovie 120 cây số; tối đa giết được 20.000 người mỗi ngày.

3. Trại tập trung Sobibor, cũng ở Ba Lan tối đa giết được 20.000 người mỗi ngày.

Các “cơ xưởng giết người” ấy hoạt động ra sao? Xin đọc câu chuyện sau đây của tên SS Globocnick, con người đã được nhiệt liệt ngợi khen vì đã thay thế hơi ngạt phát ra từ ống xẹc-măn của một máy Diesel bằng khí acide-prussique, hữu hiệu và nhanh chóng hơn:

“Ở Belzek, trong bầu không khí nóng bức của tháng tám, mùi hôi hám đè nặng khắp vùng đến độ không còn có thể chịu đựng được nữa. Hằng hà sa số ruồi vo ve khắp mọi nơi. Sáng sớm chuyến xe lửa đầu tiên gồm 45 toa chở đến 6.700 người Do-Thái, mà 1.450 đã chết vì đói lạnh dọc đường. Ngay khi con tàu vừa dừng lại, đám người liền được lùa xuống một cách tàn bạo. Một máy phóng thanh ra lịnh: cởi bỏ hết quần áo, mắt kiếng, răng giả, nộp nhẫn vàng và nữ trang ở một gui-sê.

Đàn bà và con gái lần lượt đi ngang qua các anh “thợ hớt tóc” các “thợ” nầy bằng hai hoặc ba nhát kéo sởn gọn các mái tóc đi qua trước một. Tóc cắt được sẽ bỏ vào các bao.

Tiếp đó, đoàn người lên đường đến trại. Tất cả mọi người đầu trần truồng. Đi đầu tôi thấy một thiếu nữ đẹp tuệt vời. Đa số người Do-Thái đã đoán trước được số phận đang chờ đợi họ: mùi hôi của thịt bị đốt cháy đã nói lên điều đó. Nhiều người lầm rầm cầu nguyện.

Các phòng hơi ngạt đầy ắp. “Dồn họ vào” Thiếu tá Wirth ra lịnh. Bọn SS nhét họ vào từ bảy đến tám trăm trong khoảng rộng 25 thước vuông. Các cánh cửa đóng lại. Tôi nhìn đồng hồ chính xác đo thời gian; 50 giây, 70 giây... Chiếc máy Diesel không chịu chạy. Người ta nghe thấy tiếng la khóc của các người bị nhốt trong phòng. Cuối cùng, sau 49 phút sửa chữa; chiếc máy bắt đầu nổ. Thêm 25 phút nữa - qua các lỗ kiếng ở cửa sổ và nhờ vào ánh sáng các bóng điện trong hành lang, tôi nhân thấy, trong phòng hơi nầy, phần lớn người Do-Thái đã lìa đời. Ở phút thứ 32 người cuối cùng chết hẳn.

“Các người trong đội lao tác, cũng người Do-Thái, mở toang các cánh cửa. Các người chết ép sát vào nhau, vẫn đứng sững như các cột trụ được trồng sát nhau. Lẹ lẹ - phải dọn dẹp căn phòng ngay để đón tiếp đoàn người kế tiếp.

“Đội lao tác nắm các xác chết lôi ra ngoài: tử thi nhơ nhuốc phân, nước tiểu, huyết kinh nguyệt. Hai mươi nha sĩ tù binh tay cầm móc sắt có nhiệm vụ cạy gỡ răng vàng. Nhiều tù binh khác lục lọi trong các nơi mật thiết nhứt của xác chết để tìm kiếm đồ trang sức hoặc các đồng tiền vàng...

Sáu lò thiêu xác vĩ đại hoạt động thường trực ngày đêm...

Các khổ hình khác đặc biệt thường được dành cho phụ nữ.

- Một tên SS để đùa giỡn đã rứt một em bé ngay trên tay người mẹ trước đôi mắt khiếp hãi của bà nầy, hắn ta quăng cục thịt sống nầy vào ang nước đang đun sôi bên cạnh. Bà nầy muốn nhào theo con, tên SS nắm đầu bà ta kéo lại vừa cười rũ rượi. Người thiếu phụ khốn khổ ấy trở nên điên loạn trước khi bị đưa vào phòng hơi ngạt.

- Một lần khác, cũng để đùa giỡn, một nhóm sĩ quan SS đã chọn 50 thiếu nữ đẹp nhứt trong số những người mới vừa được đưa đến đồng thời cho lính dẫn đến 50 cụ già. Chúng bắt buộc họ làm tình với nhau giữa sân.

- Cũng để đùa giỡn, đám lính SS đã bắt vài chục thiếu nữ xinh đẹp nhứt trong số phụ nữ đang bị giam giữ trong trại (để chờ ngày vào phòng hơi ngạt), chúng lột hết quần áo và dùng cây đánh đập các cô gái nầy để ép buộc họ chạy vòng vòng trong sân, cùng lúc một số khác đã dùng dây thòng lọng quăng bắt từng cô một, như cao bồi bắt ngựa ở Texas, và lôi xềnh xệch về phía chúng, đoạn chúng đè cứng cô gái nằm dưới đất trong khi một tên từ từ tiêm thuốc độc mã-tiền-linh vào bắp vế cô gái, cô gái rướn người lên... đôi mắt trợn trừng, bọt mép bắt đầu sùi ra...

Các y sĩ SS đã thực hiện một loại thí nghiệm về giải phẫu sinh thể (thí nghiệm ngay trên con người sống và còn tỉnh) không tưởng tượng được, ngay cả trên các người đàn bà đang mang thai…


Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái SERGE MILLER.txt


Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái SERGE MILLER.pdf


Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái SERGE MILLER.doc




Trái tim mặt trời , Thích Nhất Hạnh

Phanblogs Trái tim mặt trời , Thích Nhất Hạnh. Cái thấy với cái thương đi đôi với nhau, cái thấy với cái thương là một. Tiểu trí thì đi với tiểu bi, mà đại trí thì đi với đại bi.



Những điều trông thấy mà đau đớn lòng



Bạn có khi nào xem một chương trình truyền hình về loài vật trong đó các loài săn đuổi nhau để ăn thịt nhau không? Bạn đã từng thấy một con cọp đuổi bắt một con nai hoặc một con rắn đang nuốt một con ếch không? Loại phim này thường khiến ta hồi hộp. Ta mong ước cho con nai thoát khỏi nanh vuốt của con cọp, và con ếch thoát khỏi cái miệng của con rắn, bởi vì nếu nhìn con cọp xé nai hoặc rắn nuốt ếch thì ta thấy khó chịu trong người. Nhưng đây không phải là chuyện phim giả tạo mà là chuyện thực trong cuộc đời. Ta muốn cho nai và ếch thoát thân, nhưng ta ít nhớ rằng con cọp và con rắn phải có thức ăn mới sống được. (Bạn chớ quên rằng ngoài rau đậu ta còn ăn gà, lợn, tôm, cá, dê, bò và cũng như cọp và rắn, ta ăn cả nai và ếch nữa). Ta không muốn "khó chịu trong người" cho nên ta đứng về phía con nai và con ếch. Ta thầm ước chúng nhảy thoát cho lẹ.


Người thiền giả trong trường hợp đó phải giữ cho tỉnh táo. Y không được đứng về phe nào hết, và y thấy y có mặt nơi cả hai bên. Có những kẻ có thể nhìn cảnh tượng con cọp xé xác con nai một cách thản nhiên và thích thú nữa, nhưng phần lớn chúng ta đều hồi hộp đứng về phía kẻ yếu. Người thiền giả cũng có khuynh hướng đứng về phía kẻ yếu: nếu cảnh tượng là cảnh tượng sống thì y nhất định kiếm cách làm cho con nai hoặc con ếch chạy thoát. Tuy nhiên y làm như thế không phải chỉ để tránh cái đau trong lòng y. Y phải thấy được sự thất vọng của con cọp và con rắn mà thương chúng, nghĩa là thấy được tất cả những vật lộn của muôn loài mà thương chúng, nghĩa là thấy được tất cả những vật lộn của muôn loài trong sự mưu sinh. Ðọc sâu vào cuốn sách của cuộc đời, ta thấy rằng tuy cuộc đời chứa đầy những mầu nhiệm, nó cũng chứa đầy những cảnh tượng kinh khiếp não lòng. Bạn đã thấy nhiều về đời sống của loài nhện chưa? Bạn đã sống qua một cuộc chiến tranh chưa? Bạn đã từng chứng kiến cảnh tra tấn, tù đày, thanh toán? Bạn đã chứng kiến cảnh cướp bóc và hãm hiếp trên biển cả?



Người yêu ơi, em là ai?


Một hôm nào đó nếu cần đề tài thiền quán, bạn hãy chọn một đề tài thích hợp với bạn, nghĩa là một đề tài cho bạn nhiều cảm hứng và có thể thu hút được sức chú ý của bạn đến mức tối đa. Như tôi có nói ở phần trước, đề tài có thể là mặt trời, con sâu, chiếc lá, mặt mũi bạn khi bạn chưa sinh, thời gian, hoặc một hạt tuyết sa. Tất cả mọi hiện tượng, cụ thể hay trừu tượng, vật lý, sinh lý, tâm lý hay siêu hình đều có thể là đề tài thiền quán. Một khi chọn lựa rồi, bạn sẽ theo dõi nó ôm nó vào trong tâm, dành cho nó công trình ấp ủ cần thiết cũng như chiếc trứng cần sự ấp ủ của con gà mẹ để có thể nở thành gà con. Bạn có thể lấy cái "ta" của bạn ra làm đề tài thiền quán, hoặc cái ta của người mình yêu mến nhất, hoặc cái "ta" của người mà bạn thù ghét nhất. Ðề tài nào cũng có thể đưa đến sự giác ngộ, miễn là bạn ôm nó được trong chiều sâu của bản thể bạn. Nếu đề tài chỉ được giao phó cho trí năng thì không chắc nó sẽ mang lại kết quả mà bạn mong muốn.


Mặt mũi của bạn chẳng hạn. Bạn là ai? Bạn đã từng quán niệm về đề tài ấy chăng? Trước khi cha mẹ sinh ra, bạn là ai? Bạn chưa có hình tích, nhưng bạn đã có hay là chưa có? Tại sao từ chỗ không có bạn lại có thể trở thành có? Nếu ngày hôm ấy, cha mẹ của tôi không gặp nhau, thì bây giờ tôi là ai? Nếu ngày hôm đó, nếu không phải là con tinh trùng ấy mà là một con tinh trùng khác đi vào tiểu noãn thì bây giờ tôi là ai? Tôi là tôi hay tôi là một người anh, một người chị, hoặc một người em của tôi? Nếu ngày xưa cha tôi không cưới mẹ tôi mà cưới một người đàn bà khác thì bây giờ tôi là ai? Hoặc nếu ngày xưa mẹ tôi không về với cha tôi mà về với một người đàn ông khác thì bây giờ tôi là ai? Mỗi tế bào trong cơ thể bạn có một đời sống tự trị, mỗi tế bào của bạn có phải là một cái ta không? Loại (espèce) nằm trong chủng (genre), mỗi loại có phải là một cái ta không?


Nếu bạn đem tất cả tâm tư, trí tuệ và tình cảm bạn mà hỏi bạn những câu như thế, nếu bạn đem những câu hỏi đó dìm xuống đáy tâm tư, một ngày kia bạn sẽ thấy những cái thấy bất ngờ.



Có khi nào bạn nhìn thẳng vào mắt người yêu và hỏi: "Em là ai?" hoặc "Anh là ai" chưa? Hỏi để người yêu của bạn trả lời, và nhất là để bạn trả lời. Ðừng bằng lòng với những câu trả lời thông tục. Em là ai mà đã đến đây, lấy cái đau của tôi làm cái đau của em, lấy cái vui của tôi làm cái vui của em, lấy cái sống chết của tôi làm cái sống chết của em? Em là ai mà cái ta đã cùng với cái ta của tôi trở nên như một? Tại sao em không là một giọt sương, một cánh bướm, một chân chim hay là một cây thông? Ðừng bằng lòng với những hình ảnh thi ca. Hãy hỏi bằng tất cả tâm can, bằng tất cả những gì tạo nên con người bạn. Bạn chưa từng hỏi người bạn thù ghét nhất (nếu có) một câu hỏi như thế. Nhưng rốt cuộc rồi bạn cũng sẽ phải hỏi người ấy một câu hỏi tương tự. Anh là ai mà đã từng làm cho tôi khổ đau, căm giận và thù ghét, hay anh chính là nghiệp quả, là nhân duyên hoặc là ngọn lửa thử thách đã trui luyện nên tôi; nói một cách khác, hay anh cũng là tôi? Bạn hãy là người ấy. Bạn phải là người ấy, lo âu những nỗi lo âu của người ấy, khổ đau những nỗi khổ đau của người ấy, đau xót những cái đau xót của người ấy. Bạn không thể thực sự "là hai" với người ấy. Cái ta của bạn không phải nằm "bên ngoài" cái ta của người ấy. Bạn chính là người ấy, cũng như chính bạn là người yêu của bạn, cũng như bạn là chính bạn.

Bạn quán niệm cho tới khi nào bạn thấy được nơi người lãnh tụ chính trị tàn ác nhất, nơi người tù nhân bị tra tấn dã man nhất, nơi người trưởng giả giàu sang nhất cũng như em bé nghèo ốm trơ xương nhất. Bạn quán niệm cho tới khi bạn thấy bạn nơi hạt bụi hay nơi những tinh hà xa xôi nhất.

Tiêu chuẩn định hướng


Thiền quán sẽ làm nẩy nở cái thấy nơi bạn cũng như sẽ làm nẩy nở nơi bạn khả năng yêu thương, tha thứ, hoan hỷ và buông thả. Bạn biết buông thả, vì bạn không còn cần nắm giữ riêng cho bạn, bởi vì bạn không còn là cái ta bé nhỏ dễ tan vỡ cần phải bảo trọng bằng đủ mọi cách nữa. Bạn trở thành hoan hỷ, bởi vì cái vui của ai cũng là cái vui của bạn, bởi vì bạn không còn ganh ghét và ích kỷ nữa. Bạn trở nên đầy tha thứ, bởi vì bạn không còn duy trì cố chấp và thành kiến. Bạn mở rộng lòng yêu thương, bởi vì bạn biết đau được nỗi đau khổ của muôn loài, và bạn làm hết tất cả những gì trong khả năng của bạn để làm vơi bớt những khổ đau ấy. Bốn đức trên kia, được gọi là tứ vô lượng tâm, là từ, bi, hỷ, xả, hoa trái tự nhiên của cái thấy trùng trùng duyên khởi. Sự phát triển của bốn đức ấy nơi bạn chứng tỏ bạn đang đi trên con dường thiền quán chân chính và bạn có khả năng hướng dẫn kẻ khác mà không sợ bị lầm lạc.


Trái tim mặt trời , Thích Nhất Hạnh.txt

Trái tim mặt trời , Thích Nhất Hạnh.pdf

Trái tim mặt trời , Thích Nhất Hạnh.doc

Thích nhất hạnh ebook

Phanblogs Thích Nhất Hạnh (tên khai sinh Nguyễn Xuân Bảo, sinh ngày 11 tháng 10 năm 1926) là một thiền sư, giảng viên, nhà văn, nhà thơ, nhà khảo cứu, nhà hoạt động xã hội, và người vận động cho hòa bình người Việt Nam.

Ông sinh ra ở Thừa Thiên-Huế, miền Trung Việt Nam, xuất gia theo Thiền tông vào năm 16 tuổi, trở thành một nhà sư vào năm 1949.[1] Năm 1973 khi hiệp định Paris được ký kết, ông bị cấm về Việt Nam và ở lại Pháp từ đó đến nay.

Thích Nhất Hạnh là nhà lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn thứ hai ở phương Tây chỉ sau Đạt-lại Lạt-ma.[2][3] Ông là người đưa ra khái niệm "Phật giáo dấn thân" (engaged Buddhism) trong cuốn sách Vietnam: Lotus in a Sea of Fire của ông.[4]

Thích Nhất Hạnh đã viết hơn 100 cuốn sách, trong số đó hơn 40 cuốn bằng tiếng Anh. Ông là người vận động cho phong trào hòa bình, với các giải pháp không bạo lực cho các mâu thuẫn.[5]

Tiểu sử

Thích Nhất Hạnh có tên khai sinh là Nguyễn Xuân Bảo, sinh năm 1926 tại Thừa Thiên (miền Trung Việt Nam). Vào năm 16 tuổi ông xuất gia ở chùa Từ Hiếu gần Huế, nơi ông thọ giáo với Thiền sư Thanh Quý Chân Thật.[6][7][8] Tốt nghiệp Phật học Viện Báo Quốc, Huế,[9] Thích Nhất Hạnh tu học thiền theo trường phái Đại thừa của Phật giáo và chính thức trở thành một nhà sư vào năm 1949. Thích Nhất Hạnh lúc đó được công nhận là một thiền sư và là lãnh đạo tinh thần của chùa Từ Hiếu cùng các tu viện liên quan khác.[10] Ông là tổ của nhánh Từ Hiếu đời thứ 8, dòng Liễu Quán, đời thứ 42 của thiền phái Lâm Tế (Lin Chi Chan 臨濟禪, hay Rinzai Zen trong tiếng Nhật)[6].

Vào ngày 1 tháng 5 năm 1966 tại chùa Từ Hiếu, Thiền sư Chân Thật trao ấn khả cho Thích Nhất Hạnh để từ đây ông trở thành một thiền sư (thầy dạy về thiền).[6] Thích Nhất Hạnh đã phối hợp kiến thức của ông về nhiều trường phái thiền khác nhau cùng với các phương pháp từ truyền thống Phật giáo Thượng tọa bộ, những nhận thức sâu sắc từ Phật giáo Đại thừa, và các phát kiến của ngành tâm lý học đương đại phương Tây để tạo thành cách tiếp cận hiện đại của ông đối với thiền. Ông đã trở thành một người có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của Phật giáo phương Tây.

Hoạt động

Thích Nhất Hạnh, 2007

Thiền viện Lộc Uyển tại Nam California
Năm 1956, Thích Nhất Hạnh là Tổng biên tập của Phật giáo Việt Nam, tờ báo của Tổng hội Phật giáo Việt Nam. Vào thập niên 1960, ông thành lập Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội (School of Youth for Social Services - SYSS) ở Sài Gòn, một tổ chức từ thiện xây dựng lại các làng bị bỏ bom, xây dựng trường học và các trạm xá, và giúp các gia đình bị trở thành vô gia cư trong Chiến tranh Việt Nam[11]. Ông cũng là một trong những người thành lập Viện Đại học Vạn Hạnh và Nhà xuất bản Lá Bối. Viện Đại học Vạn Hạnh trở thành một viện đại học tư thục danh tiếng tập trung các nghiên cứu về Phật giáo, văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam. Thiền sư Nhất Hạnh dạy giáo lý Phật giáo và Bát-nhã-ba-la-mật-đa (Prajnaparamita). Trong một buổi gặp mặt vào tháng 4 năm 1965, đoàn sinh viên Vạn Hạnh đưa ra thông điệp "lời kêu gọi vì hoà bình". Nội dung chính của lời kêu gọi là "đã đến lúc hai miền Bắc-Nam của Việt Nam họp lại để tìm một giải pháp chấm dứt chiến tranh và đem lại cho mọi người Việt Nam cuộc sống hoà bình với lòng tôn trọng lẫn nhau".

Thích Nhất Hạnh đã đến Hoa Kỳ nhiều lần để diễn thuyết và giảng dạy về Phật giáo tại Viện Đại học Princeton[12] và Viện Đại học Cornell[12], và sau này giảng dạy tại Viện Đại học Columbia. Ông kêu gọi Martin Luther King, Jr. công khai chống lại Chiến tranh Việt Nam, và thuyết giảng với nhiều người và nhiều nhóm về hòa bình. Vào năm 1967, King đề cử ông cho Giải Nobel Hòa bình[13]. Thích Nhất Hạnh dẫn đầu phái đoàn Phật giáo đến Đàm phán hòa bình Paris. Là một trong những người thầy về Phật giáo ở phương Tây, những lời dạy và các phương pháp thực hành của Thích Nhất Hạnh thu hút nhiều người đến từ các quan điểm về tôn giáo, tâm linh và chính trị khác nhau. Ông đưa ra cách thực hành "chánh niệm" (sự lưu tâm đúng đắn - Pali: Sati; Sanskrit:smṛti स्मृति; tiếng Anh: mindfulness), thường được điều chỉnh cho phù hợp với văn hóa phương Tây[14].

Năm 1966, Thích Nhất Hạnh lập ra Dòng tu Tiếp Hiện ("Tiếp" có nghĩa tiếp xúc, tiếp nhận, "Hiện'" có nghĩa thực hiện; tiếng Anh:The Order of Interbeing, tiếng Pháp: L’ordre de l’interêtre), và thiết lập các trung tâm thực hành, các thiền viện khắp trên thế giới. Nơi cư ngụ của ông là Tu viện Làng Mai ở vùng Dordogne thuộc miền Nam nước Pháp[15]. Ông du hành khắp thế giới thuyết giảng và tổ chức các khóa tu thiền. Sau nhiều năm không được phép quay về Việt Nam, ông được về lần đầu tiên vào năm 2005[16]. Nhất Hạnh vẫn tiếp tục các hoạt động vận động vì hòa bình. Ông đã tổ chức các khóa tu thiền cho người Israel và người Palestine, khuyến khích họ lắng nghe và học hỏi lẫn nhau; thuyết giảng kêu gọi các nước đang tham chiến hãy đình chiến và đi tìm giải pháp bất bạo động cho các mâu thuẫn của họ[17]; và tổ chức diễu hành hòa bình ở Los Angeles vào năm 2005 được tham dự bởi hàng ngàn người.[18]

Năm 1973 khi hiệp định Paris được ký kết, ông bị cấm về Việt Nam và ở lại Pháp từ đó đến nay.

Trong các năm 1976-1977, Thích Nhất Hạnh đã nỗ lực để giúp giải cứu thuyền nhân Việt Nam trong vịnh Thái Lan. Sau đó ông đã phải ngừng việc này do áp lực từ các chính phủ Thái Lan và Singapore.[19]

Sau 1975


Thích Nhất Hạnh tại Việt Nam, 2007
Từ 12 tháng 1 đến 11 tháng 4 năm 2005, Thích Nhất Hạnh quay về Việt Nam sau một loạt các thương lượng cho phép ông thuyết giảng, một số sách của ông được xuất bản bằng tiếng Việt, và cho phép 100 tăng ni và 90 thành viên khác của dòng tu theo ông đi khắp đất nước, bao gồm cả chuyến quay về ngôi chùa ông xuất gia, chùa Từ Hiếu ở Huế[16][20].

Năm 2007, ông cùng phái đoàn Phật giáo quốc tế thuộc tăng thân Làng Mai trở về Việt Nam với lịch trình từ ngày 20 tháng 2 (mùng 4 Tết) đến ngày 9 tháng 5, mục đích tổ chức các khóa tu, các buổi pháp thoại, gặp gỡ các tăng ni phật tử ba miền[21]. Đầu năm 2007, với sự đồng ý của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, ông tổ chức ba trai đàn chẩn tế lớn tại ba miền Việt Nam gọi là "Đại trai đàn Chẩn tế Giải oan" cầu nguyện và giải trừ oan khổ cho tất cả những ai đã từng gánh chịu hậu quả khắc nghiệt của cuộc chiến tranh, dù đã qua đời hay còn tại thế, không phân biệt tôn giáo, chính trị, chủng tộc.[22]

Thích nhất hạnh ebook Danh Sách 80 Sách.mobi


43 Công Án Của Trần Thái Tông
Am Mây Ngủ
An Lạc Từng Bước Chân
An Trú Trong Hiện Tại
Bàn Tay Cũng Là Hoa
Bồ Tát Tại Gia, Bồ Tát Xuất Gia
Bông Hồng Cài Áo
Bước Tới Thảnh Thơi
Bụt Là Hình Hài, Bụt Là Tâm Thức
Chỉ Nam Thiền Tập Dành Cho Người Trẻ
Cho Đất Nước Đi Lên
Cho Đất Nước Mở Ra
Con Đã Có Đường Đi
Con Đường Chuyển Hóa
Con Sử Tử Vàng Của Thầy Pháp Tạng
Cửa Tùng Đôi Cánh Gài
Đạo Bụt Nguyên Chất
Đạo Phật Áp Dụng Vào Đời Sống Hằng Ngày
Đạo Phật Của Tuổi Trẻ
Đạo Phật Đi Vào Cuộc Đời
Đạo Phật Hiện Đại Hóa
Đạo Phật Ngày Nay
Đạo Phật Qua Nhận Thức Mới
Để Có Một Tương Lai
Để Hiểu Đạo Phật
Đường Xưa Mây Trắng
Duy Biểu Học
Giận
Giới Tiếp Hiện
Hạnh Phúc Mộng Và Thực
Hiệu Lực Cầu Nguyện
Hoa Sen Trong Biển Lửa
Hơi Thở Nuôi Dưỡng Và Trị Liệu
Hướng Đi Của Đạo Bụt Cho Hòa Bình Và Môi Sinh
Hương Vị Của Đất
Im Lặng Sấm Sét
Không Diệt Không Sinh Đừng Sợ Hãi
Kinh Kim Cương – Gươm Báu Cắt Đứt Phiền Não
Kinh Người Áo Trắng
Kinh Pháp Ấn
Kinh Quán Niệm Hơi Thở
Nẻo Vào Thiền Học
Nẻo Về Của Ý
Nghi Thức Tụng Niệm Đại Toàn
Người Vô Sự
Nhật Tụng Thiền Môn
Nói Với Tuổi Hai Mươi
Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức
Quyền Lực Đích Thực
Sám Pháp Địa Xúc
Sen Búp Từng Cánh Hé
Sen Nở Trời Phương Ngoại
Sống Chung An Lạc
Sự Tích Quan Âm Hương Tích
Sự Tích Quan Âm Thị Kính
Thả Một Bè Lau
Thiền – Chất Liệu Nuôi Dưỡng Và Chuyển Hóa
Thiền Hành Yếu Chỉ
Thiền Sư Tăng Hội
Thiền Tập Cho Người Bận Rộn
Thiết Lập Tịnh Độ
Thơ Từng Ôm Và Mặt Trời Từng Hạt
Thương Yêu Theo Phương Pháp Bụt Dạy
Tiếp Xúc Với Sự Sống
Tình Người
Tố Thiều Lan
Trái Tim Của Bụt
Trái Tim Của Hiểu Biết
Trái Tim Của Trúc Lâm Đại Sĩ
Trái Tim Mặt Trời
Truyện Kiều Văn Xuôi Dành Cho Người Trẻ
Từng Bước Nở Văn Sen
Tùng Bưởi Hồng
Tuổi Trẻ Tình Yêu Lý Tưởng
Tương Lai Thiền Học Việt Nam
Tương Lai Văn Hóa Việt Nam
Tý – Chiếc Lá Ổi Non, Cây Tre Triệu Đốt
Ước Hẹn Với Sự Sống
Việt Nam Phật Giáo Sử Luận
Vương Quốc Của Những Người Khùng