Tìm kiếm blog này

Cách thay bông và bấc cho zippo

PhanblogsDẫu biết zippo là bật lửa rất bền nhưng có ngày rồi em nó cũng dở chứng(bật chỉ phực rồi tắt hoặc lửa cháy nhưng chập chờn rồi từ từ lụi mất)đây là lúc chúng ta cần phải bảo dưỡng cho em nó.Trong bài này tôi xin đề cập đến vấn đề thay bông và bấc cho zippo để chiếc zip của chúng ta mãi cháy như lúc ban đầu.


Xin hướng dẫn như sau,đây là cách được tôi yêu thích nhất:
Đầu tiên chúng ta cần chuẩn bị 1 số dụng cụ cần thiết như:1 ít bông,1 chiếc bấc mới,kéo,nhíp.
Sau đó tháo tung em nó ra,gỡ bỏ phần bông và bấc cũ:
Làm sạch sẽ buồng đốt bằng bông tẩm xăng zippo:
Luồn bấc mới vào ruột zip theo chiều từ buồng đốt xuống:lúc này nên để chiều cao tim chỉ bằng nửa chiều cao buồng đốt
Chúng ta bắt đầu chèn bông,lưu ý miếng bông đầu tiên là 2 miếng.Theo hình:
Lúc này ta bắt đầu uốn chiếc bấc,lưu ý khi uốn tránh làm bấc bị gấp khúc bấc dẫn xăng sẽ ko tốt:
Chèn thêm 1 miếng bông nữa sau khi uốn bấc:
Lúc này ta nên điều chỉnh độ cao của bấc bằng 1 chiếc nhíp.lưu ý ta nên để chiều cao của bấc bằng lỗ thông gió cao nhất của buồng đốt:
Sau khi điều chỉnh xong ta chèn thêm bông:
và ráp hoàn tất:
Việc cần làm của chúng ta giờ là chỉnh bấc sao cho chiếc zip có ngọn lửa đẹp nhất,nên kiếm 1 que tăm xỏ ngang lỗ thông gió của chiếc zip trong quá trình chỉnh bấc để tránh ko làm bấc bị gấp ngay tại cổ:
Và ta bắt đầu chỉnh bấc bằng 1 que sắt mỏng đã được uốn cong như hình.Ta tì đầu của que sắt vào cổ bấc và chỉnh:
Sau khi chỉnh xong ta sẽ dc như thế này(nhìn qua lỗ thông gió):
Và bây giờ là công việc cuối cùng,châm xăng và thưởng thức ngọn lửa
Yêu cầu ngọn lửa cháy cao khoảng trên 5cm đứng im và không giảm chiều cao trong vòng 1 phút.:

Chúc tất cả các bạn thành công!!!!

 


















Chuyện bật lửa Zippo của Hồ Tĩnh Tâm

Phanblogs

Chuyện bật lửa Zippo của Hồ Tĩnh Tâm

Saturday, 20th March 2010


ZIPPO CỦA HỒ TĨNH TÂM




MỖI CÁI ĐỀU GẮN VỚI MỘT KỈ NIỆM KHÓ QUÊN




VÀ TẤT NHIÊN... TẤT CẢ ĐỀU LÀ ZIPPO CỦA KỈ NIỆM


CHUYỆN ZIPPO VÀ TÔI
Hồ Tĩnh Tâm
 
Tôi nhìn thấy zippo lần đầu tiên tại một cánh rừng ở Atopo nước Lào.
ảnh zippo của Hồ Tĩnh TâmLúc đó chúng tôi dừng chân ở một binh trạm phía Tây Trường Sơn. Ăn cơm trưa xong, hầu hết anh em trong trung đội đều mắc võng nằm ngủ, còn tôi lại một mình lủi vô rừng, hy vọng  sẽ khám phá được điều gì đó mới lạ. Đang đi, tôi chợt nhìn thấy hàng loạt biển báo CÓ MÌN. CẤM VÀO. Tôi đang đứng lớ ngớ, chưa quyết sẽ đi tiếp sang phải hay sang trái, bỗng nghe có tiếng nói:
 
- Lính mới ngoài Bắc vào hả? Sợ thì theo tôi. Trong ấy nhiều thứ hay lắm.
 
Một người lính xuất hiện, sau lưng đeo cái ba lô lép xẹp. Anh ta nói tiếp.
 
- Tớ đang đi tìm đường sữa đây. Hút với tớ điếu thuốc nhé!
 
ảnh zippo của Hồ Tĩnh TâmAnh ta lôi trong túi ra một gói rubi đỏ, búng lòi ra một điếu mời tôi, rồi lại thọc tay vào túi quần. Nghe keng một tiếng nhỏ mà thanh, phát ra từ ngay chỗ túi quần bên phải, tôi thấy người lính đưa lên cái bật lửa vỏ bằng inox sáng loáng, với ngọn lửa cháy rất đẹp.
 
Thấy tôi tỏ ra ngạc nhiên, anh ta nói:
 
- Zippo đấy. Zippo chiến lợi phẩm trận Iadrang. Nó bắn tớ lủng phổi. Tớ tước được của nó cái zippo. Mấy năm rồi mà còn mới toanh nhé. Vô giá nhé. Mẹ khỉ cái thằng Mẽo, trong người chỉ có cai zippo là quý.
 
ảnh zippo của Hồ Tĩnh TâmTôi còn nhớ rất rõ cảm giác của tôi lúc ấy, nghĩa là lúc tôi ngẩn người ra, nhìn chăm chắm vào cái bật lửa nhãn hiệu USA của Mĩ. Sao mà nó đẹp và tuyệt thế không biết. Cái bật lửa vỏ bằng nhôm của Trung Quốc, người ta mới bổ sung cho chúng tôi, cùng với cái đèn pin cũng vỏ bằng nhôm của Trung Quốc, tự nhiên chẳng còn nghĩa lý gì, mặc dù lúc được cấp phát, tôi sướng rên cả người.
 
ảnh zippo của Hồ Tĩnh TâmKhi cùng với anh cựu binh đi sâu vào bãi mìn, tôi mới biết, cứ nơi nào có biển cấm nguy hiểm chết người, vì có mìn, có bom nổ chậm, y như rằng ở đó có kho quân nhu, kho lương thực thực phẩm, hoặc là kho súng đạn. Việc dùng dao găm cạy nắp thùng gỗ, nẫng lấy vài hộp sữa, vài bao đường, vài tút thuốc lá, chẳng có gì là khó. Rừng rộng mênh mông, của cải ngoài Bắc đưa vào, nhiều không biết cơ man nào mà kể. Hậu cần chiến tranh mà lại. Nhưng với tôi lúc đó, đường sữa để mà làm gì, người ta phát cho chúng tôi cả đống, kể cả bột lòng đỏ trứng gà và lương khô. Vỗ béo lính tráng để vào trận mà. Thành ra, khi đi theo người lính, tôi chỉ nghĩ tới cái zippo, nghĩ tới việc, làm sao kiếm được một cái zippo.
 
ảnh zippo của Hồ Tĩnh TâmVâng. Kể từ khi gặp những người thương binh đang trên đường ra Bắc, tôi thấy hầu như ai cũng có bật lửa zippo, đèn pin cổ ngoéo, bi đông inox của Mĩ. Những thứ đó, chứng tỏ họ là cựu binh, là vàng đã qua thử lửa. Mãi hai ngày sau, thông qua tay Hoành Hà Bắc, tôi mới tậu được cho mình một cái zippo thật sự, với giá năm đồng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cọng thêm tấm hình chân dung nhỏ xíu của Phụng. Là Hoành gạ gẫm mua được của một tay thanh niên Lào. Nếu không nhờ có tấm hình của Phụng, chắc chắn mười đồng, chứ hai mươi đồng, Hoành cũng không thể mua được cai zippo ấy.
 
Hoành nói:
- Có thằng Lào Lùm đến đổi mật ong lấy gạo, nó có cái zippo, mà em gạ tới mười đồng nó cũng không bán. Em thấy nhiều thằng đổi ảnh người yêu lấy gà rừng, hay là anh cho em tấm hình bạn gái của anh, em gạ nó xem.
 
ảnh zippo của Hồ Tĩnh TâmPhụng là bạn học cùng khoa Trắc địa với tôi ở trường đại học Mỏ - Địa chất, tấm hình ấy là tấm duy nhất tôi đem theo vào Nam , dù tiếc đến cách mấy, máu đam mê zippo của tôi cũng mạnh hơn. Và cuối cùng… cái zippo cũng đã nằm trong túi của tôi.
 
ảnh zippo của Hồ Tĩnh TâmSau này, khi miền Nam giải phóng, mãi tới gần cuối năm 1976, tôi mới được nghỉ phép về Hà Nội thăm nhà. Tất nhiên là tôi có ba lô dù của Mĩ, bi đông inox của Mĩ, đèn pin cổ ngoéo của Mĩ, và cả zippo chính cống của lính bộ binh Mĩ. Tất cả tôi đều cho bạn bè, vì tôi làm gì có thứ quà nào khác, ngoài những thứ góp nhặt qua các trận đánh. Và cũng từ sau lần về phép ấy, tôi không thể kiếm được cho mình một cái zippo nào khác. Cuộc chiến đã đi qua, muốn có zippo thì phải mua, mà tôi làm gì dư dả tới mức xài sang, dùng bật lửa zippo Hoa Kì. Người Việt lúc này đã biết chơi zippo như chơi tem, chơi hoa kiểng, chơi chim, chơi cá. Ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, đã thấy xuất hiện các câu lạc bộ zippo; người ta bắt đầu lùng sục sưu tầm zippo, như là kỉ niệm của một thời- thời của những cuộc hành quân zippo, khói lửa mịt mù các làng xóm Miền Nam .
 
ảnh zippo của Hồ Tĩnh TâmBạn thử hình dung. Nếu bạn có một cai zippo, trên vỏ có khắc tên của người lính Hoa Kì với số quân của họ, mà người lính đó, bây giờ là giáo sư tiến sĩ của Nasa, là thượng nghị viện của Hoa Kì, là anh hùng không quân vũ trụ, là trưởng một nhóm nghiên cứu tại thung lũng silicon ở San francisco… Chà, giá của nó sẽ là sự thèm thuồng của tất cả zippoger, bạn có dám bán không. Tôi chỉ nói thế này, mãi tới năm 1980, khi tôi đi thực tập dạy học ở Long Xuyên, biết tôi khoái zippo như khoái sưu tầm sách vở, Mai Thị Giúp đã kiếm ở đâu đó, hay mua ở đâu đó, gởi tặng cho tôi một cái zippo có số quân hẳn hòi, thế mà ai đó đã nỡ lòng chôm mất của tôi. Không nói thì bạn cũng biết là tôi buồn đến ngần nào. Người ta quý mình, người  ta mới tặng cho mình, vậy mà mình lại làm mất.
 
Từ khi mất cái zippo là quà tặng của Giúp, tôi không còn dám nghĩ tới zippo nữa, mặc dù mỗi lần về thăm nhà ở Sài Gòn, tôi vẫn hay lội bộ tha thẩn trên vỉa hè đường Lê Lợi, lẩn thẩn đứng ngắm những cái zippo cũ kĩ, được bày bàn chung với các miếng thẻ bài của lính, các cây kèn armonica và kèn melodia. Lạ thế, những người bán kèn lại hay bán zippo; hình như zippo với kèn armonica và kèn melodia có sợi dây liên hệ nào đó. Không tin, bạn cứ ra vỉa hè đường Lê Lợi ở quận nhất sẽ thấy. Zippo và kèn armonica. Zippo và kèn melodia. Cuối cùng là… zippo và tôi, mặc dù tôi không hề có cái zippo nào trong túi.
 
ảnh zippo của Hồ Tĩnh TâmThế rồi đùng một cái, chú em trai của tôi, sau khi xuống thăm một chiến hạm của hạm đội 7 Hoa Kì, đã đem về tặng tôi một cái zippo USA chính cống. Nó là zippo được sản xuất theo đơn đặt hàng của hải quân Hoa Kì, vỏ bằng đồng, màu vàng, có in hình chiếc hàng không mẩu hạm 76, với dòng chữ USS RONALD REAGAN CVN 76 ở phía trên, và thêm dòng chữ Peace through Strength ở phía dưới. Khi chú em tặng tôi cái zippo này, cụ thân của tôi đã lấy vỏ đựng cái máy nhắn tin MOTOROLA tặng cho tôi. Từ đó tôi đeo dính nó bên người. Ai hỏi mượn bật lửa, tôi cũng tự tay bật lửa châm thuốc cho họ. Đơn giản thôi, người Việt thường có thói quen mượn bật lửa châm thuốc, rồi nhét luôn vào túi quần của mình. Nó là cái bật lửa ga bằng mủ, giá một vài ngàn thì không sao, còn đây là cái zippo của hải quân Hoa Kì, sản xuất theo đơn đặt hàng hẳn hòi, lại chính em trai tặng ông anh cơ mà. Tôi sợ nhất là ai đó lấy cớ mượn zippo của tôi đem đi đâu đó, chẳng hạn đi nhóm bếp, đi đốt rác; họ thường lấy cớ như vậy, mượn rồi không chịu trả, tôi phải chạy đi tìm, phải cương quyết lắm mới đòi lại được. Sợ nhất là mấy ông bạn có chức tước, hỏi mượn xem một chút, rồi nhét ngay vào túi quần với một câu gọn lỏn: “kỉ niệm nhé!”. Kỉ niệm thế nào được. Nó là kỉ niệm của tôi, ai lại đi xin vật kỉ niệm của người khác. Bạn thấy đấy, tôi phải nói thật nghiêm túc, họ mới chịu trả lại; và chắc chắn họ nghĩ, tôi chẳng đáng để làm bạn với họ, khi mà tôi dám nói, anh giàu thế, ra siêu thị mà mua, vài trăm chứ vài triệu cũng có cả đấy. Vâng, vì zippo mà mất đoàn kết như chơi.
 
ảnh zippo của Hồ Tĩnh TâmThế rồi tôi bị té xe, văng bắn lên cao hơn cả mét, ngã quật xuống lòng đường bất tỉnh. Khi tỉnh dậy trong bệnh viện, sau khi khâu mười bốn mũi, nhìn thấy nhà văn Trần Thôi, tôi đã hỏi: “có thấy cái zippo của tao không?’. Nghe Trần Thôi nói không, tôi cầm chắc là  đã mất. Thế nhưng phước tổ ba đời cho tôi, ai đó đã lượm cái zippo bị văng trên đường, nhét vào túi sau trong cái xắc cốt bằng da của tôi.
 
ảnh zippo của Hồ Tĩnh TâmThế rồi tới lượt Ngọc Hiệp bị té xe. Sau cú té trời giáng ấy, Ngọc Hiệp bị chấn thương, nặng tới mức phải ngồi xe lăn. Cám ơn trời đất cứu sống chồng, vợ Ngọc Hiệp là Ngọc Hải, đã làm một buổi tiệc rất lớn, thết đãi bạn bè. Chúng tôi vui với nhau từ trưa tới tận chín giờ tối. Khi tôi về tới nhà, mới biết trong cái túi da hiệu motorola, không có cái zippo của hải quân Hoa Kì mà chú em đã tặng. Nhớ là khi ra về, tôi có ghé quán Cây Mai uống cà phê, tôi đã gọi điện nhờ Nguyệt Hồng chạy ra quán hỏi giùm. Nghe Nguyệt Hồng trả lời là không thấy, tôi lại gọi cho Ngọc Hải, Ngọc Hải cũng trả lời là không thấy, bấy giờ tôi hoàn toàn thất vọng, nghĩ rằng ai đó quá thích đã mượn và không trả lại cho tôi.
 
ảnh zippo của Hồ Tĩnh TâmVài ngày sau, tôi viết bài chia tay với cái zippo, mà tôi từng quý nó biết mấy. Để đỡ trống vắng cho cái túi da motorola, tôi đã mua một cái zippo Trung Quốc, giá tám mươi ngàn bỏ vào; nhưng điều đó, chỉ làm cho tôi nhớ cai zippo chính cống của hải quân Hoa Kì hơn. Có lẽ thấu hiểu nỗi niềm của tôi, Chung Ny ở New york , đã mua tặng tôi một cái zippo, nhờ người chị đem về cho tôi. Và lạ lùng hơn nữa, đúng một năm, sau ngày cái zippo bị mất, vào một buổi tối, khi tôi đang ngồi gõ bàn phím, Ngọc Hải gọi điện cho tôi, nói rằng, có phải cái zippo màu vàng là của anh không, hôm nay em dọn bàn thờ nhìn thấy nó. Ôi trời. Thì ra cô em gái của Ngọc Hải, đã mượn cái zippo của tôi để đốt nhang, rồi bỏ luôn trên bàn thờ. Nó nằm ở đấy một năm ròng, vậy mà bật lên vẫn cháy. Đó là ngọn lửa của zippo USS RONALD REAGANảnh zippo của Hồ Tĩnh Tâm CVN 76.
 
Thế rồi con gái tôi, từ Toyhachi bên xứ sở hoa anh đào về thăm nhà, cháu mua cho tôi rất nhiều quà, nhưng tôi thích nhất là hai thứ. Thứ nhất là cái áo phóng viên ảnh zippo của Hồ Tĩnh Tâmvới rất nhiều túi ngoài, túi trong, có thể nhét vào đó đủ thứ đồ đạc cần thiết, cho việc vừa đi vừa tác nghiệp. Và thứ hai… tất nhiên là một cái zippo thứ thiệt, hiệu Spiral+Heart. Vậy là gia tài của tôi đã có ba cái zippo nhãn hiệu USA chính cống. Chừng đó, coi như tôi đã có một bộ sưu tập nho nhỏ, rất dễ thương.
 
ảnh zippo của Hồ Tĩnh TâmCòn bây giờ, đồng hành với tôi là cái zippo MOTOR HARLEY-DAVIDSON CYCLES, Mộng Thúy mua từ Thụy Sĩ đem về vào dịp Tết Canh Dần. Không nói thì các bạn cũng biết, nó là vô giá. Bởi vậy, bao giờ quá vui với bạn, tôi cũng đều nói, tụi mày nhớ nhắc tao cái zippo nhen, mất nó là tao không viết lách gì được đâu; với tao, nó là báu vật từ Dietikon của  Zuerich xứ Switzerland đấy.
 
Nhiều lần tôi đã đặt cả mấy cái zippo lên bàn ngồi ngắm một cách ngơ ngẩn, và nghĩ rằng, có dịp, mình sẽ khắc tên những người tặng mình lên đấy. Kỉ niệm mà. Tất cả đều là những kỉ niệm đẹp, với con gái, với em trai, và với bạn bè.
 
Tôi và zippo.
Zippo và tôi và bạn tôi.
 
HTT








ĐÂY LÀ ZIPPO CỦA TÌNH YÊU


Hoa Mua

PhanblogsĐến Khê Đầu tôi bắt gặp hoa mua. Hoa mua này có tên khoa học là Melastoma candidum. Hoa mua ở Việt Nam mà có lần tôi thấy ở rừng núi phía Bắc trông to, giống như cái bát nhỏ. Người Trung Quốc, người Nhật Bản đều gọi hoa mua là mẫu đơn dại (dã mẫu đơn, nobotan). Hoa mẫu đơn là loại hoa quý phái cung đình, còn hoa mua là loại hoa dân dã núi rừng.

Bài ca vọng cổ Hoa mua trắng của Ngự Bình có câu:

Hoa mua đón mặt trời cho thêm rực rỡ

Hoa mua đón trăng, trăng vẽ nét long lanh

HOA MUA TRẮNG Tôi đưa đoàn chiến sỹ qua sông, được chị lái đò kể cho nghe chuyện người con gái. Tôi hỏi: người con gái ấy tên gì? Chị chỉ vào cây hoa dại, Tôi hỏi: Hoa gì? Chị nói: Hoa mua. Tôi lỡ miệng nói đùa: Bông hoa rừng ai để ý mà mua? Chị bổng nhìn tôi cái nhìn thông cảm, rồi tay vuốt nhẹ tay tôi như nói hãy nói yên lòng, chị nói với tôi: ở đây không có hoa lan, hoa huệ, hoa hồng, chỉ có hoa mua dạn dày sương nắng, mà chẳng phai màu đổi sắc trắng trong, hoa mua đón mặt trời cho thêm rực rỡ, hoa mua đón trăng - trăng vẽ nét long lanh, hoa mua sinh ra từ rừng núi hiền lành, trang điểm cho đời thêm hương sắc. Rồi giặc đến quê hương ào ào như cơn lóc, suối reo im, tiếng chim hót bổng dừng. Trên bến sông mẹ tiễn cha đi theo ngọn lửa rừng, mẹ chị trở thành người lái đó từ thuở ấy, còn chị - củng từ đấy lớn lên. Khách qua sông khen chị dịu hiền. Thời gian như tô điểm cho chị ngày thêm lộng lẫy, bổng 1 hôm tên quan châu nhìn thấy chúng gọi mẹ đến nhà dùng bạc để đòi mua. Hoa mua ai bán mà mua, mẹ không ngã giá cho vừa lòng quan, rồi một hôm lòng mẹ đau như xé, chúng tới nhà bắt chị đem đi, mẹ nhìn con mà chẳng biết làm gì, rồi mẹ ra bờ sông nhìn theo dòng nước chảy, khi nhớ chồng mẹ lên nương rẩy, mẹ nhớ chị lại ngắm hoa mua. Mẹ lắng nghe sâu thẳm tiếng chuông chùa, và những cánh mua rơi đầy tóc mẹ, rồi mẹ nằm mơ thấy con mình chết trẻ, trong bàn tay hung bạo của quân thù. Cha được tin giặc bắt chị đi, nổi đớn đau hẹn ngày cha trở lại. Cách mạng mùa thu xua tan đời khổ ải, cha trở về đứng ngắm mãi hoa mua. Hoa mua của mẹ cha càng đậm đà sương nắng, cách mạng về chị như chim sổ lòng tung cánh bay giữa trời thu đẹp ánh mây hồng. Nhìn thấy chị đi trong đoàn quân cách mạng mà nước mắt mẹ tuôn ròng, thấy cảnh quê hương phút giây thay đổi mà tưởng đó chỉ là 1 giấc chiêm bao. Ôi hoa mua của mẹ năm nào, tưởng đã rã rời với màu bụi cát. Cách mạng đã chắp cho chị từng cánh hoa lưu lạc, để in vào đôi mắt mẹ trong ngần. Trên bến sông, thoáng trong con đò năm xưa, chị cầm chèo thay mẹ sớm trưa và bao cuộc tiễn đưa, đoàn trai trẻ lên đường, ra nơi chiến trường. Giờ tôi mới tường bông hoa ấy trên bến sông đang chỡ tôi đi, và những người mang nhiều mơ ước đang cùng nhau theo bước cha ông, Mẹ với cha là những người đi trước, chị và tôi đang tiếp bước bao ngày. Từ mùa thu ấy đến nay, hoa mua vẫn nỡ ngát đầy trời xuân. Trên sông, đò chỡ đoàn quân bóng ai ai thấy trong ngần hoa mua.

Mình được nghe bài này từ hồi còn đĩa than đầu đọc kim- hồi nhỏ giờ nghe lại vẫn thấm

Khất thực là gì ?

Phanblogs
Hỏi: Xin vui lòng giảng giải cho tôi biết về pháp khất thực của nhà Phật như thế nào?
Đáp: Thưa quý thính giả,
Việc đầu tiên của đức Phật sau khi giác ngộ là thành lập Tăng đoàn gồm những đệ tử xuất gia theo Ngài, những hiền nhân nay đây mai đó, những người từ bỏ tất cả để học Phật pháp và hoằng dương giáo lý giải thoát. Họ sống bằng cách đi khất thực từ nhà này đến nhà khác, và sở hữu của họ không có gì ngoài ba chiếc áo và một cái bình bát. Danh từ khất sĩ có từ đó. Khất Sĩ có nghĩa là khất thực và khất pháp, tức là xin vật thực của người đời để nuôi thân và xin Pháp của Phật để tu hành nuôi tâm. Từ ban đầu, họ không phải là những nhà tu khổ hạnh tự hành xác để sám hối và không xem lối sống đơn giản tự nó là cứu cánh mà chỉ là phương tiện để giải thoát những phiền toái hàng ngày hầu có thể tập trung toàn lực vào công việc quan trọng duy nhất là đạt giác ngộ cho mình và giúp ích cho người.
Khất thực có nghĩa là xin ăn. Cách nuôi thân một cách chân chính do Phật dạy cho những đệ tử xuất gia. Đó là thực hành chính mạng thanh tịnh. Tưởng cũng nên nói thêm ở đây là tu sĩ của một số tôn giáo khác ở xã hội Ấn Ðộ thời đức Phật còn tại thế, thường dùng những phương tiện không chính đáng để mưu sinh, bởi lẽ những công việc ấy nhẹ nhàng, dễ làm, không khó nhọc như các nghề coi bói toán, xem tinh tú, bùa chú, xem ngày xấu, giờ tốt, xem phong thổ, địa lý, xây nhà, đào ao, v…v… Ðức Phật nhận thấy đây là điều không thể chấp nhận và không phải là việc làm của người tu sĩ Phật giáo, không phải là hành chánh mệnh thanh tịnh.
Đi khất thực còn gọi là đi bình bát hay trì bát. Chữ Bát có nghĩa là đồ dùng để chứa đựng các thực phẩm chỉ đủ vừa sức ăn cho một người. Bình bát là loại bình được làm bằng đá, bằng sành, bằng đất sét nung thật chín rồi tráng men bên trong cho khỏi rỉ nước, chứ không được làm bằng vàng bạc hay tất cả những kim khí quý, … Nếu dùng bằng kim khí quý thì không đúng phẩm hạnh của người xuất gia. Các vị đã phát tâm xuất gia tức là tập hạnh xả bỏ tất cả, kể cả thân mạng nếu cần và đúng với chánh pháp, nghĩa là xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo. Ở các nước theo Nam Tông Phật giáo, chư Tăng đi khất thực nên thường dùng bình bát. Các nước theo Bắc Tông Phật giáo thì không đi khất thực nên chỉ dùng bình bát trong ba tháng an cư kiết hạ, có nơi còn ba tháng kiết đông nữa; đồng thời, thỉnh thoảng có quý thí chủ phát tâm cúng dường trai tăng thì cũng dùng bình bát để cúng Phật trước khi thọ trai.
Tăng đi khất thực nên thường dùng bình bát

Chuyến đi khất thực bao giờ cũng diễn ra vào buổi sáng và chấm dứt trước giờ ngọ tức trước lúc mặt trời đứng bóng. Các Tỳ-kheo đi một mình hay từng nhóm, không đứng trước cửa chợ mà đi theo thứ tự, từ nhà này sang nhà khác, không phân biệt, mắt nhìn xuống và yên lặng đứng đợi trước mỗi cửa nhà để xem thức ăn có được đặt vào bình bát không. Các thí chủ chỉ cúng dường những thức ăn đã được nấu sẵn, không cúng dường các vật liệu chưa làm thành món ăn, như cúng cơm chứ không cúng gạo, cúng món rau xào chứ không cúng bó rau chưa nấu chín. Nếu chưa đủ dùng, chư vị tiếp tục đi theo hàng dọc đến nhà bên cạnh nhưng không được quá bảy nhà. Chư vị không được phép bỏ sót nhà nào, hoặc dành ưu tiên cho phố xá ở các thị trấn phồn thịnh, các gia chủ giàu hay nghèo đều phải được tạo cơ hội đồng đều để gieo trồng phước duyên, cũng không muốn gây cảm tưởng là chư vị ham thích những khu phố giàu có vì thức ăn ngon hơn.
Khất thực xong, các vị trở về tịnh xá để ăn trước khi mặt trời đứng bóng. Đây là bữa ăn duy nhất trong ngày. Thông thường thức ăn được phân ra làm bốn phần: một phần nhường lại cho các bạn đồng tu nếu thấy họ không có hay có ít, một phần san sẻ cho người nghèo, một phần dành cho loại chúng sinh không phải là người nhưng sống chung với người và cuối cùng còn lại là phần mình dùng. Khi thọ dụng thức ăn các vị Tỷ kheo xem như là việc uống thuốc để duy trì sự sống mà tu hành, ngon không ham, dở không bỏ. Thọ dụng cúng phẩm của người đời vừa khỏi đói khát thì thôi, không được ham cầu cho nhiều, phá vỡ thiện niệm của họ. Sau bữa ăn, các vị rửa bát, xếp gọn các y, ngơi nghỉ trong chốc lát, liền lại đến một gốc cây hay căn nhà trống, hay tịnh thất ngồi thiền định như hành Tứ niệm xứ hay niệm hơi thở vào, hơi thở ra.
Hằng năm, chư Tăng ni an cư vào ba tháng mùa mưa. Tất cả trở về sống chung trong các tịnh xá lớn. Trong thời gian này, chư Tăng không đi khất thực, đã có thiện nam, tín nữ, đến tịnh xá “để bát” và lo tứ sự cúng dường. Cứ đến ngày lễ Bố-tát vào ngày trăng tròn và ngày đầu trăng, chúng Tỳ kheo cùng sống trong một vùng phải tập họp lại một chỗ gọi là giới trường để tụng đọc Giới bổn Ba La Đề Mộc Xoa. Chư Ni thì có đại diện đến xin lãnh giới ở chư Tăng và trở về tịnh xá riêng của Ni để tụng đọc Giới bổn Ni. Ngoài ba tháng an cư, chư Tăng được tung ra khắp các phương hướng, đi đến các trú xứ khác nhau, trong các quốc độ, vừa khất thực để độ nhật, vừa thuyết pháp độ sinh, và vừa nỗ lực tinh cần tiếp tục hành Thiền để đoạn trừ tham sân si.
Các Tỳ-kheo đi một mình hay từng nhóm

Thưa quý thính giả,
Pháp Khất thực do Phật truyền cho các đệ tử xuất gia phù hợp với nguyên lý Trung đạo, tức là tránh xa hai cực đoan: Thứ nhất là tránh xa sự sung sướng thái quá qua việc ăn thực phẩm do người đời cúng dường để vào trong bình bát mà không dùng đũa ngọc, chén ngà, bàn cao, ghế đẹp với thức ăn mỹ vị, và thứ hai là tránh xa sự khổ hạnh thái quá qua chiếc bát đựng đồ ăn vừa đủ dùng, không giống như phái tu khổ hạnh lượm trái cây, lượm đồ ăn dư thừa mà ăn.
Theo Kinh Phật, sự xin ăn của tu sĩ đem lại lợi ích cho mình và cho chúng sinh:
Đối với vị Tỳ kheo khất thực thì có năm điều lợi ích:
(1) tâm trí được rảnh rang, ít phiền não,
(2) không bận rộn tâm và thân để kiếm kế sinh nhai,
(3) đoạn trừ tâm kiêu căng ngã mạn,
(4) đoạn trừ lòng tham, không thể tham ăn ngon và ăn nhiều vì ai cho gì ăn nấy, không thể chọn lựa, thức ăn chỉ đầy bát chớ không nhiều hơn nữa, tránh khỏi sự thâu trữ vật thực tiền của và
(5) có nhiều thì giờ tu hành.
Ngoài lợi ích cho riêng mình, vị Tỳ kheo khất thực còn mang lại ba điều lợi ích cho chúng sinh như:
(1) tạo cơ duyên cho người bố thí đoạn trừ lòng tham, tức là tạo phước duyên cho họ,
(2) tạo cơ duyên giáo hoá chúng sinh, và
(3) Nêu gương sống giản dị làm cho người đời bớt tham đắm của cải.
Theo Kinh Phật, trước khi lên đường khất thực vị khất sĩ nguyện rằng: “Nguyện cho các vị Khất gỉa thảy đều được no đủ và nguyện cho các thí chủ thảy đều được phước báu vô lượng. Như nay tôi được món ăn là dùng để điều trị cái thân độc hại này, để tu tập thiện pháp, lợi ích cho thí chủ.”
Trong khi đi khất thực, vị khất sĩ giữ tâm bình đẳng: theo thứ tự nhà của dân chúng mà xin ăn, không chỉ đến xin nơi nhà giầu, cũng không chỉ xin nơi nhà nghèo. Có lần đức Phật quở Tôn gỉa Ca Diếp bỏ nhà giầu mà xin nhà nghèo, quở Tôn gỉa Tu Bồ Đề bỏ nhà nghèo mà xin nhà giầu. Vì trước đó Tôn Giả Ca Diếp nghĩ rằng “người nghèo thật đáng thương, ít phước, nếu không gieo trồng phước lành cho họ thì đời sau lại càng khổ hơn, nên đến đó xin để nhờ đó họ bố thí cúng dường mà được phước về sau”. Trái lại, Tôn giả Tu-Bồ-đề lại cho rằng: “Người giàu, nếu đời nay không gieo trồng phước lành thì đời sau lại nghèo khổ.” Mỗi vị đều trình bày lý do của mình, Đức Phật mới quở trách các vị ấy là bậc A-la-hán có tâm phân biệt, không bình đẳng. Khi đi vị Khất sĩ không ngó qua ngó lại, không được mở miệng nói chuyện, đi hết bảy nhà nếu không ai cúng dường cũng phải trở về với bát không và không ăn ngày hôm đó. Khi đi khất thực, vị khất sĩ cũng không được để ý xem mình được cái gì, và cũng không được thỏa mãn cũng như bất mãn. Nếu một người đàn bà cúng dường đồ ăn, vị Khất sĩ không được nói, nhìn hay quan sát người ấy đẹp hay xấu. Đồ ăn cúng dường cho Khất sĩ không phải luôn luôn nhiều hay ngon lành, hay tinh khiết. Các chuyến đi khất thực đôi lúc cũng có thể gây nên những xáo trộn tình cảm cho các Tỳ-kheo trẻ vì đa số thí chủ là đàn bà con gái. Do đó, việc tự điều phục thân tâm phải được tăng cường là điều rất cần thiết trong lúc khất thực, như đức Phật đã nhấn mạnh: “chỉ khi nào thân tâm được điều phục, thực hành chánh niệm và phòng hộ các căn thì mới đi vào làng khất thực”.
Thưa quý thính giả,
chỉ khi nào thân tâm được điều phục, thực hành chánh niệm và phòng hộ các căn thì mới đi vào làng khất thực

Ngày nay, tại một số quốc gia theo truyền thống Phật giáo Nam Tông như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Lào và một phần của miền Nam Việt Nam chư Tăng vẫn tiếp tục theo truyền thống khất thực này. Ở Trung Hoa, Triều Tiên và Tây Tạng truyền thống khất thực dường như đã hoàn toàn biến mất. Dưới Triều nhà Đường ở Trung Hoa, một tông phái đặc biệt, Luật Tông, được thành lập với mục đích làm sống lại truyền thống khất thực xưa, và đem ra thực hành những giới luật nghiêm ngặt của Luật Tạng. Dưới triều đại nhà Tống, các Thiền Sư thực hành khất thực và sự thực hành này còn tồn tại nơi những Thiền Sư Nhật Bản. Tuy nhiên ở Nhật Bản, khất thực không phải là nguồn sinh sống chính mà chỉ là một sự tập luyện kỷ luật cho những vị sơ tu hay là một cách lạc quyên vào những dịp đặc biệt và cho những mục đích từ thiện. Đối với Phật giáo phương Tây, vì hoàn cảnh xã hội không giống như hoàn cảnh các quốc gia phương Đông, nên pháp Khất thực khó thực hiện. Đa số các Tăng ni không đi khất thực nên các nhu cầu ăn uống đều do các Phật tử tại gia cúng dường.
Riêng tại Việt Nam hình ảnh các vị tăng áo vàng đi khất thực không còn nhiều nữa bởi nhiều lý do không hay cho lắm, trong đó có những vị Sư giả đi khất thực! Thật là buồn khi chính Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam phải ra thông tư giới hạn nghiêm ngặt việc khất thực để bảo vệ danh dự của tăng đoàn nhất là tăng đoàn của hệ phái Khất sĩ và Phật giáo Nguyên Thuỷ Việt Nam. Ðối với hệ phái Khất sĩ và Nam tông, sau ngày 1.5.2001, nếu vị nào vẫn muốn giữ hạnh khất thực thì phải xin phép với giáo hội và sẽ được giáo hội cấp gấy chứng nhận cùng với phù hiệu đàng hoàng. Các vị này phải hành trì đúng chánh pháp, đúng luật qui định của giới khất sĩ, tức là chỉ đi khất thực từ 8 giờ đến 10 giờ sáng. Sau 10 giờ sáng là phải trở về trú xứ. Chỉ được thọ nhận vật thực, không được nhận tiền bạc. Về hành trang chỉ gồm có một chiếc bình bát duy nhất, không được mang theo túi hay đãy. Ðối với Ni giới, khi đi khất thực, phải đi từ hai vị trở lên, không được đi một mình riêng lẻ.
Nói tóm lại, vì nhu cầu tu học, nên vấn đề ăn uống cần phải được giản dị, thực phẩm phải được xem như là dược thực, vì thế Tăng đoàn thời Đức Phật phải đi khất thực. Khất thực là chính sách thực hành giáo pháp, là truyền thống của chư Phật. Các thầy Tỳ kheo phải giữ tâm bình đẳng mà đi khất thực từng nhà, không phân biệt giầu nghèo sang hèn để tạo cho đủ mọi tầng lớp dân chúng đều có cơ duyên thực hành hạnh bố thí cầu phước, nhân dịp đó quý thầy nói pháp khuyên dạy mọi người tu hành. Khi đi không ngó qua ngó lại, không được mở miệng nói chuyện, luôn điều phục thân tâm trong chánh niệm, đi theo thứ lớp: Nếu hàng Phật tử thỉnh thọ trai thì không cần theo thứ lớp, cứ đi thẳng đến nhà thí chủ thỉnh mình. Còn khất thực phải theo thứ lớp. Ai cho gì ăn nấy, không được phân biệt thức ăn tốt xấu, ngon dở, chay mặn, không được qui định người thí chủ phải cúng dường như thế nào, mà là tùy điều kiện khả năng và phát tâm của thí chủ. Đó mới gọi là trí không phân biệt. Cũng vậy khi ăn thì phải trộn các món ăn với nhau để không còn phân biệt món này với món khác, món ngon món dở và không phân biệt mùi vị. Mục đích để không còn luyến ái mùi vị thơm ngon, mà chỉ cần ăn để nuôi sống xác thân mà tu hành giải thoát.
师僧乞食-真 & 假
,NHIỀU NGƯỜI
,Kẻ ấy sẽ phải nhanh chóng thọ lãnh một ác báo ngay trong đời sống hiện tại!


nhìn thấy một số các nhà sư đi khất thực, nhưng không biết phân biệt sư tu thật hay sư tu giả, có công đức hay không có công đức.
,Sau đây sẽ hướng dẫn cho người Phật tử và Tín thí chủ biết cách phân biệt.

,Trước hết, hãy nhìn vào y phục của vị ấy.
,Một nhà sư thật, khi đi khất thực sẽ đắp thượng y gọn gàng và trùm kín mình. Trừ trường hợp bất đắc dĩ, như bị mắc mưa, hay bị tai nạn chẳng hạn,..; thì vị ấy mới cởi thượng y vắt qua vai. Trong trường hợp đặc biệt nầy, vị ấy thường xếp chân kiết già và ngồi xuống yên tại một nơi.
,Ngược lại, nhà sư giả thì không thể có được oai nghi ấy.

,Đa số những tu sĩ giả họ thường mặc áo quần theo cách của "chú tiểu" và kiểu của Đại Thừa; vì họ không có thượng y, và dù có họ cũng không biết cách để đắp y trùm kín mình.

,Tiếp theo, nhìn cách đi, đứng hay ngồi của vị ấy.
,Một nhà sư thật đi chậm rãi đoan trang, không gấp gáp vội vàng, trừ vài trường hợp như tránh xe hay khi trời mưa tới...
,Khi đứng, vị ấy gần như đứng trong một tư thế bất động cả hai chân; không mỏi, không lắc lư nhún nhảy. Khi ngồi cũng gần như vậy.
,Ngược lại, nhà sư giả thì đi đứng hấp tấp, dáo dác. Khi đứng thì dễ mỏi và lắc lư, chao đảo mãi. Khi ngồi thì như kẻ ăn mày, vì kẻ ấy không thể nào ngồi kiết già hay ngồi yên theo xu hướng bất động.

,Tiếp theo, hãy nhìn đôi mắt và cách nhìn ngó của vị ấy.
,Nhà sư thật, có đôi mắt nhìn thẳng, hoặc nhìn xuống đất khoảng một tầm trước mặt. Đôi mắt điềm tỉnh, như không hề thấy ai.
,Ngược lại, nhà sư giả thì đôi mắt nhìn khắp nơi, tò mò và dáo dác, chao đảo; xu hướng về những nơi có thu hoạch tài vật hay tiền bạc.
,Bằng cách đó, nhà sư thật hay nhà sư giả, mọi người đều dễ dàng phân biệt rõ.

,Như vậy đã loại bỏ nhà sư giả rồi.
,Giờ sẽ phân biệt giữa nhà sư có hay không có công đức.
,Ở đây, cần hiểu rằng: khất thực là một Pháp hành căn bản của người xuất gia thuộc về Chánh Mạng và là một chi phần của Pháp tu thiên về khổ hạnh; mà căn bản là hạnh thiểu dục tri túc, tức ít muốn và biết đủ.
,Cho nên, nhà sư thật có công đức chỉ đi khi cần thiết, vì bữa ăn hoặc do thiếu thốn thật sự. Còn nhà sư dư đủ mà vẫn đi, là do lòng tham và thường chỉ đi để kiếm tiền bạc.

,Do vậy, nhà sư thật có công đức, đi khất thực vì nhu cầu sự sống; với một nghiệp tùy thuận Chánh Pháp, chứ không phải vì lòng tham tài vật.
,Vị ấy thường thiếu thốn nên thân tướng thường ốm yếu và dễ xấu xí. Còn vị đi khất thực chỉ vì lòng tham, thì thân tướng thường đẹp đẽ; bởi họ đã có đời sống dư dật, ăn uống sung sướng, đầy đủ.

,Tâm lý con người thường ưa nhìn vẻ đẹp bên ngoài hay nơi nét mặt, nơi vóc dáng. Khi nhìn nhà sư đẹp đẽ, họ hay nghĩ rằng:
,-Vị nầy do có tu nhiều nên phát tướng tốt!
,Đó là một sai lầm khi đánh giá tổng quan về một nhà sư khất thực.

,Nhà sư có công đức thường ăn trong bình bát và sau khi ăn chuyên lo tu tập. Vị ấy thường ăn ngày một bữa trưa, ăn ít và ngủ ít để phá hôn trầm thụy miên, nên thân tướng thường gầy yếu.
,Ngược lại, nhà sư không có công đức thì ăn dư ngủ đủ; nên thân tướng thường mập mạp, đẹp đẽ.

,Kẻ ấy sẽ phải nhanh chóng thọ lãnh một ác báo ngay trong đời sống hiện tại!


,Lại nữa, nhà sư có công đức thường bận y màu hoại sắc, màu sắc thô xấu, để hợp với những vết dơ do bụi bặm nơi y áo đã nhiều lần không kịp giặt.
,Vì sao vậy? Vì vị ấy, sau khi đi khất thực về, ăn xong, lo tu tập các thiền pháp.
,Khi trời thiếu nắng hay do thiếu nước, vị ấy không tiện giặt y. Hơn nữa, vị ấy thiên về khổ hạnh 3 y, (gồm chỉ 1y thượng, 1y trung và 1y hạ) nên ít khi có điều kiện giặt giũ. Do y thường có vết dơ, nên vị ấy hay chọn y màu hoại sắc.
,Ngược lại, nhà sư không có công đức thì chẳng tu tập gì, nên rảnh rỗi. Người nầy vốn ưa làm đẹp; mà làm đẹp cũng là một cách để khi đi khất thực họ được nhận nhiều tài vật hơn, cho nên họ hay trau chuốt y phục. Người nầy thường sạch sẽ và quen ưa chọn màu y tươi vàng sáng sủa.
.......
...LẠI NỮA,
nhà sư có công đức đã thường tu tập pháp môn tọa thiền; nên khi cần ngồi xuống, vị ấy đã quen và chỉ thích ngồi kiết già.
,Ngược lại, nhà sư không có công đức thì chưa từng tu tập pháp môn nầy, nên không thể nào ngồi theo được.

,Như vậy, ở trên đã nói lên đầy đủ cách phân biệt giữa nhà sư có hay không có công đức. Bây giờ sẽ nói đến những nhà sư có công đức tối thượng trong số ấy.
,Kẻ ấy sẽ phải nhanh chóng thọ lãnh một ác báo ngay trong đời sống hiện tại!
,TRONG SỐ
những nhà sư đi khất thực được kể là có công đức, thì có những vị tối thượng.
,Vị nầy thật tâm hướng về giải thoát.
,Vì đời sống, vì sự thiếu thốn, vị ấy phải đi ra ngoài, mà thật thì người nầy không hề muốn.
,Vị ấy chỉ ưa yên tịnh tọa thiền trong am cốc.
,Vị nầy chi nhận tiền trong bình bát khi chưa có am cốc để ở.
,Bởi vì, thời nay, đất đai khắp nơi đều có chủ. Muốn làm am cốc thì phải có tiền để mua đất, chứ chẳng mấy ai cho không cả, trừ vị đủ duyên phước mới nhận được đất cúng dường.

,Khi đã có am cốc, vị ấy vẫn đi khất thực mỗi ngày; vì đó là hạnh nuôi sống theo CHÁNH MẠNG; đúng với Chánh Pháp, là một chi phần của Bát Thánh Đạo; nhưng vị ấy sẽ không bao giờ nhận tiền bạc nữa, dù là trong bình bát hay bất cứ nơi nào khác.
,Trong trường hợp nầy, mọi người cần biết phân biệt với các ông sư Khất Sĩ giả danh cao thượng.
,Những người ấy, khi đi khất thực họ cũng làm bộ không nhận tiền bạc; nhưng về am thất, về chùa, về tịnh xá thì họ lại nhận tiền triệu cho đến bạc tỷ!
,Một khi đã không nhận tiền bạc, tức muốn giữ thanh tịnh giới nầy, thì các bậc Chân Nhân sẽ không nhận dù là trong bình bát hay bất cứ nơi nào khác. -Nhà sư Khất Thực,
Ai là Tối thượng trong những vị có Công Đức?

...NHƯ VẬY,
ngày nay, chỉ vì đời sống hoặc vì cần có am thất để ở, để thuận tiện cho việc tu tập; mà nhà sư thật sự có công đức phải đi khất thực và phải nhận tiền bạc, dù vị ấy hoàn toàn không muốn.
,Cho nên, vị ấy luôn đi trong trạng thái mệt mỏi và nhàm chán. Dù đi, vị ấy cũng không chú ý gì đến thu hoạch, tài sản, vật thực hay tiền bạc. Vị ấy đi như phải thực hành một nhiệm vụ một cách miễn cưỡng.
,Vị nầy nhàm chán sự tiếp xúc, không ưa chỗ đông người, ồn ào, tấp nập.
,Ngược lại, các nhà sư giả mạo hoặc không có công đức thì rất thích những chỗ kể trên.

,Trên đường đi, vị ấy thường suy niệm về Phật Pháp và không chú ý gì đến ngoại cảnh, trừ khi phải tác động. Xu hướng của vị ấy là luôn tìm chỗ ít người, mát mẻ, sạch sẽ; xếp chân kiết già rồi ngồi xuống cho đến khi nào thỏa mãn, và lệ thường thì vị ấy chỉ đứng dậy bỏ đi khi bị nắng.

,Kẻ ấy sẽ phải nhanh chóng thọ lãnh một ác báo ngay trong đời sống hiện tại!

,Nơi nào vị ấy xếp chân kiết già ngồi xuống trong tư thế tọa thiền như vậy, nếu nơi ấy, người Phật tử và Thí chủ không biết chú ý đến, thì rõ biết Đạo Phật ở xung quanh vùng ấy chỉ có bề mặt mà thật sự là không có nguồn gốc. Ở đó, đồng bào đã quen lễ lạy tượng Phật bằng đá, bằng bê tông cốt sắt, nhưng không nhìn thấy hình ảnh của Đức Phật khi Ngài còn sống.
,Khi còn tại thế, khi đi khất thực, Đức Phật của chúng ta thường hay ngồi xuống như vậy.

,Với vị ấy, tâm xu hướng về ly tham. Thân xu hướng về tọa Thiền.
,Đó là vị tối thượng trong các nhà sư được kể là có công đức khi đi khất thực.
.......
...HẠNH PHÚC THAY,
phước đức thay khi có người Phật tử hoặc Thí chủ đặt một vài thứ gì đó vào bình bát của vị ấy; bằng cách hoan hỷ, cung kính và không luyến tiếc.
,May mắn thay, nếu có ai đó đến bên vị ấy và thưa hỏi những điều liên quan đến Phật Pháp. Người ấy sẽ được thành tựu Chánh Kiến và được nhiều lợi ích.

,Cũng cần lưu ý rằng, nhà sư khất thực luôn phải "đầu trần chân đất", vì đây là pháp môn tu hành xu hướng về khổ hạnh.
,Với nhà sư thật sự thì phải có sức kham nhẫn. Vì vậy, vị ấy có khả năng chịu đựng, dù cho trời nắng như đổ lửa hay mặt đường nóng bỏng. Vị ấy vẫn đi, bình thản, an nhiên và tự tại.
,Vì nhu cầu cuộc sống, một vài khi vị ấy phải đi sâu vào những nơi đông người qua lại, thí dụ như đi vào trong các khu chợ. Trong trường hợp nầy, các bảo vệ khu chợ thường hay xua đuổi; có khi chúng còn dùng những lời mất lịch sự, thô lỗ, thóa mạ.
,Thật là tội lỗi.
,Kẻ ấy sẽ phải nhanh chóng thọ lãnh một ác báo ngay trong đời sống hiện tại!
,Kẻ ấy sẽ phải nhanh chóng thọ lãnh một ác báo ngay trong đời sống hiện tại!
,Cuối cùng, là nói đến vị Thánh Nhân hoặc vị Chân Nhân, khi họ đi khất thực.
,Các vị ấy, hiện nay người ta hiếm gặp trên cõi đời.
,Những vị nầy, hoàn toàn không cất chứa vật thực. Họ sẽ đi khất thực mỗi ngày để xin đồ ăn vào buổi sáng và hoàn toàn không nhận tiền bạc, dù bất cứ nơi đâu.
,Sau khi khất thực về và ăn xong, vị ấy sẽ an trú trong thiền định và hướng tâm đến giải thoát.
,Các vị nầy sẽ thực hành những pháp môn còn lại để tiến tới chứng đắc đạo quả.
,Với các vị đó, thật đáng gọi họ là những mảnh ruộng hạnh phúc (phước điền) vô lượng ở đời, sau Đức Phật và các bậc Thánh Nhân.

phanblogs: ADI ĐÀ PHẬT